BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU CHÙA VĨNH NGHIÊM (BẮC GIANG) VÀ NHỊ TỔ PHÁP LOA

NCS. Thích Tâm Thông, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh; NCS. Lê Thành Nghị, Viện Trần Nhân Tông – Đại học Quốc gia Hà Nội; NNC. Nguyễn Văn Anh Khoa, Cán bộ Sở Nội vụ Tp. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Phật giáo Trúc Lâm đánh dấu mốc son cho sự phát triển của Phật giáo Đại Việt, có vai trò quan trọng trong vấn đề an dân hộ quốc. Chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) giữ vị trí trụ sở của Thiền phái Trúc Lâm, được Tam Tổ Trúc Lâm và triều đình rất quan tâm. Hệ thống các chùa Trúc Lâm tại Bắc Giang rất dày đặc, có mối quan hệ mật thiết với các chùa trong tỉnh cũng như địa bàn lân cận. Sinh hoạt tu tập và định hướng Phật giáo tại các chùa Trúc Lâm ở Bắc Giang luôn gắn liền với tín ngưỡng dân gian. Nhị Tổ có công lao rất lớn trong tu tập và hoằng pháp tại chùa Vĩnh Nghiêm. Thử tìm hiểu về vai trò của chùa Vĩnh Nghiêm và Nhị Tổ Pháp Loa trong mối quan hệ với các chùa trong tông phái, ngoài hệ phái và triều đình; liên hệ với nội điển, các giá trị Phật giáo và văn hóa, bài viết trình bày bốn vấn đề để làm sáng tỏ: Thứ nhất: Tìm hiểu về hệ thống các ngôi chùa Phật giáo Trúc Lâm tại Bắc Giang thời Trần và mối quan hệ. Thứ hai: Điểm qua một số chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm thời Trần ở tỉnh Bắc Giang. Thứ ba: Vai trò của chùa Vĩnh Nghiêm thuộc Phật giáo Trúc Lâm ở Bắc Giang từ quá khứ đến hiện đại. Thứ tư: Tìm hiểu Nhị Tổ Pháp Loa và ngôi chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang).

Từ khóa: Chùa Vĩnh Nghiêm, Nhị Tổ Pháp Loa, vai trò, Phật giáo Trúc Lâm, Bắc Giang.

  1. MỞ ĐẦU

Thiền phái Trúc Lâm ra đời thời Trần đánh dấu mốc quan trọng của Phật giáo Việt Nam mang bản sắc và văn hóa người Việt hướng đến thống nhất trong sinh hoạt, nhận thức, tư tưởng dựa trên giáo lý căn bản của đạo Phật, nhất là tinh thần Phật giáo Đại thừa và tinh thần Thiền tông. Nhị tổ Pháp Loa cùng với Sơ tổ Trần Nhân Tông, Tam Tổ Huyền Quang đã kế thừa và phát triển thế hệ các Thiền sư đi trước xây dựng và phát triển Thiền phái Trúc Lâm lớn mạnh cả về quy mô chùa chiền, số lượng tăng ni Phật tử, sức mạnh nhập thế an dân hộ quốc hiệu quả. Trong đó, ngôi chùa Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang giữ vị thế quan trọng bậc nhất, là trụ sở trung ương của giáo hội Trúc Lâm thời Trần, đặc biệt hưng thịnh dưới thời Nhị Tổ Pháp Loa. Đồng thời, chùa Vĩnh Nghiêm trong mối liên hệ với các chùa lân cận cũng giữ vị trí địa lý quan trọng, là nơi nối kết nhiều chùa trong hệ phái và các chùa thuộc các tông phái khác cùng tu tập đoàn kết, tạo sức mạnh lục hòa, làm hưng thịnh Phật giáo Đại Việt mà các thời kì sau đó khó lặp lại.

2. NỘI DUNG

2.1. Tìm hiểu về hệ thống các ngôi chùa Phật giáo Trúc Lâm tại Bắc Giang thời Trần

Phật giáo du nhập vào Bắc Giang hiện chưa rõ từ khi nào nhưng theo sử liệu từ thời Lý thì Phật giáo đã để lại dấu ấn đậm, ảnh hưởng lên mọi mặt của đời sống xã hội. Trong đó, chùa Bổ Đà (huyện Việt Yên) và chùa Vĩnh Nghiêm (huyện Yên Dũng) đều được xây dựng từ thời Lý (thế kỷ XI). Điều này được thể hiện qua các thư tịch, văn bia. Và đây cũng là những trung tâm lớn thời bấy giờ sinh hoạt Phật giáo.

Hệ thống các chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm rất dày đặc ở cả Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Giang. Tỉnh Quảng Ninh có chùa Hoa Yên, chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, chùa Tiêu, chùa Đồng; Ngự Dược am, Tử Tiêu am, Thạch Thất Ngộ Ngữ viện; chùa Long Động, chùa Lân, chùa Giải Oan, chùa Cầm Thực, chùa Tú Lâm, chùa Hồ Thiên; am Ngọa Vân, Quan Âm, chùa Chân Lạc, chùa Ngũ Đài Sơn, chùa Bắc Mã, chùa Quỳnh Lâm. Tỉnh Hải Dương nổi tiếng có: chùa Côn Sơn, chùa Thanh Mai. Ở tỉnh Bắc Giang, bên sườn Tây Yên Tử thuộc địa phận huyện Sơn Động, huyện Lục Nam, huyện Lục Ngạn, huyện Yên Dũng, ghi lại dấu ấn lịch sử đậm nét của quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Trúc Lâm thời Trần. Đặc biệt là vai trò chùa Vĩnh Nghiêm. Có thể nói, hệ thống các chùa thuộc Trúc Lâm phân bố suốt dọc triền phía tây núi Yên Tử: chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Mã Yên, chùa Hòn Tháp, chùa Cao, chùa Khám Lạng, chùa Bình Long, đền Suối Mỡ, đền Trần, chùa Hòn Trứng, chùa Hồ Bấc (huyện Lục Nam), chùa Am Vãi, chùa Đồng Vành (huyện Lục Ngạn) và Khu bảo tồn Tây Yên Tử, với chùa Đèo Bụt, chùa Cầu, chùa Kim Quy (ở huyện Sơn Động).

Hiện nay, nhiều ngôi chùa ở Bắc Giang đã và đang được trùng tu, như: chùa Hồ Bấc, chùa Ngọ ở Lục Nam; chùa Am Vãi, chùa Bình Long, chùa Cao, chùa Hòn Tháp, chùa Mã Yên, chùa Vĩnh Nghiêm. Nhìn chung, các ngôi chùa đều giữ vị trí địa lý quan trọng trong tuyến đường huyết mạch giao thông cả đường bộ và đường thủy: Nối liền các dòng sông Minh Đức, Lục Nam và dãy núi Yên Tử, ngược lên phía bắc qua ải Nội Bàng, Bản Động, Xa Lý, lên Lạng Châu và Trung Quốc, nối biên ải với Lục Đầu Giang về kinh thành Thăng Long.

Thời hiện đại, sự giao lưu hoạt động Phật sự giữa các chùa bên sườn Tây Yên Tử đã đi vào hệ thống; nhờ các tuyến đường được mở rộng và thuận tiện cũng như các phương tiện thông tin liên lạc thời 4.0. Nhìn chung, Phật giáo Trúc Lâm tỉnh Bắc Giang kế thừa và phát triển tư tưởng và thực tiễn hành thiền từ Phật giáo Trúc Lâm thời Trần, với các đặc điểm vừa dung hợp pháp tu Thiền – Tịnh – Mật, Thiền – Giáo – Luật đồng hành, vừa dung hợp với tín ngưỡng dân gian, vẫn hài hòa Tam giáo Nho – Phật – Đạo… bên cạnh việc nghiên cứu nội điển và thực hiện quy củ nền nếp thiền môn, mục đích là để Phật giáo Trúc Lâm không ngừng được mở rộng trong nhân gian, nhập thế, đồng hành cùng dân tộc, đáp ứng được tâm linh người dân.

2.2. Điểm qua một số chùa thuộc Thiền phái Trúc Lâm thời Trần ở tỉnh Bắc Giang

Chùa Am Vãi – xã Nam Dương – huyện Lục Ngạn. Năm 2017, đã được Nhà nước đưa vào danh sách Di tích Lịch sử cấp Quốc gia. Chùa là một trong những ngôi chùa cổ của khu vực Bắc Giang, nên những năm gần đây tuy được tu bổ nhưng phần lớn hầu hết phong thái vẫn giữ nét cổ kính. Cổ vật lưu lại ở chùa chủ yếu bằng đá, như: tháp, chân tảng kê cột, khắc in hình bàn chân Phật, bài vị. Đặc biệt, ở bài vị vẫn lưu lại dấu ấn Trúc Lâm bằng chữ Hán (phiên âm): “Trúc lâm viên tịch Ma Ha Bất Thương Tỳ Khưu Như Liên thiền sư hóa thân Bồ tát cẩn vị”. Hang Tiền, Hang Gạo mang ý nghĩa cầu tài lộc và Đền Mẫu đều nằm ở gần khu vực chùa. Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi: “Núi Am Ni ở xã Nam Điện, phía nam huyện Lục Ngạn. Mạch núi từ Phật Sơn và Thù Sơn kéo đến, phía tả có giếng nước trong không bao giờ cạn. Cạnh núi có hai cái bồn bằng đá, trên núi có nền chùa cũ”. Chùa gắn với truyền thuyết kể rằng đây trước vốn là một am nhỏ, có vị sư ở đây tu tập. “Ở đây có một hang Tiền và một hang Gạo do mái đá núi tạo thành. Mỗi ngày cả hai hang chỉ đủ cung cấp cho vị sư này đủ dùng trong một ngày mà không bao giờ chảy hơn”. Nội dung kể về đời sống thiểu dục tri túc, biết đủ của tăng ni và khuyên tín chúng đến không nên khởi tâm tham cầu, khuyến khích sự chuyên nhất thân tâm thanh tịnh tu tập nơi cửa thiền với đời sống giải thoát, không dính mắc việc thế. Và trong tinh thần tu tập mà đức Phật tuyên thuyết “Ngài khuyên các tỳ kheo: “Hãy du hành, vì hạnh phúc cho quần sinh, vì an lạc cho quần sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người”. Nếu làm ngược lại lời Phật dạy đạo đời đều không có kết quả; đời sống tăng đoàn quan trọng là tinh thần lục hòa. Tuy nhiên, truyền thuyết thường mang tính hư cấu, và tùy từng địa phương, văn hóa, tập tục, thời điểm mà sự hư cấu dân gian có những điểm phù hợp với tinh thần Phật học có khi lại khác rất xa; chuyện kết thúc với việc sau này ngôi chùa trở thành hoang phế khi kể lại cơ duyên “một vị huynh đệ từ xa đến tham quan cảnh chùa và ở lại dùng bữa cùng. Trụ trì chùa Am Vãi phải ra khơi cho hang Tiền, Gạo chảy ra đủ dùng cho hai người. Từ đó trở đi, hang tiền và hang Gạo không bao giờ chảy ra nữa. Nhà sư không có tiền gạo để tu hành nên đã bỏ đi, từ đấy chùa trở nên vắng sư – thành hoang phế”. Truyền thuyết không gắn với giáo lý Phật ở chiều sâu nhiều nhưng gửi gắm những bài học về nhân sinh, ứng dụng cuộc sống và tinh thần thức tỉnh các giá trị gắn bó đạo đời trong thực hành ứng dụng giáo lý.

Khoảng đến giữa thế kỷ XIV, Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử phát triển khắp Đại Việt với bốn trung tâm chùa lớn là Vĩnh Nghiêm, Thanh Mai, Yên Tử và Quỳnh Lâm. Ở Bắc Giang, chùa Vĩnh Nghiêm gắn bó chặt chẽ với các chùa Am Vãi, Yên Mã, Bình Long, Hòn Tháp, Hồ Bấc, Đồng Vành, Cao, Khám Lạng, Hang Non… tạo việc cố kết lớn trong Phật giáo và cộng đồng. Ngoài ra cũng có nhiều chùa am, cốc, thất khác của tăng ni cư sĩ Thiền phái Trúc Lâm quanh khu vực Tây Yên Tử đã xuống cấp và hư hoại nhiều mà chưa được phục hồi, nhiều nơi chỉ còn nền móng cũ.

Ở Lục Nam có núi Phật Sơn, tại đây có ngôi chùa Ngọ (chùa Đồng Vành). “Núi Phật Sơn là dải núi có hình Đức Phật ngọa thiền nhập niết bàn đầu quay về phía tây hướng về phía sông Lục Nam, chốn tố Vĩnh Nghiêm”. Thế núi đẹp và gắn với nhiều ý nghĩa biểu tượng Phật giáo, chư Tổ chọn nơi đây cũng có ý nghĩa về mặt phong thủy, cảnh quan đất nước, địa thế linh kiệt, gửi gắm tâm linh ước nguyện. Trên núi Phật Sơn còn có các chùa Hồ Thiên, am Ngọa Vân, và một số di tích có sự lưu lại công lao của Nhị Tổ Pháp Loa xây dựng phát triển. Trong đó chỉ có chùa Ngọ nằm ở phía tây Yên Tử thuộc Bắc Giang, còn lại các ngôi chùa am khác đều nằm ở phía đông thuộc tỉnh Quảng Ninh.

Chùa Khám Lạng nằm trên địa phận xã Khám Lạng, huyện Lục Nam, cũng được xếp hạng Di tích Lịch sử văn hóa cấp Quốc gia vào năm 1999; đặc biệt hương án bằng đá trong chùa là Bảo vật quốc gia, được ghi vào danh sách năm 2015. Chùa ngoài thờ Phật cũng thờ Phổ Hiền, Văn Thù và Tổ Trúc Lâm. Cạnh chùa cũng có quần thể di tích hang Non, đình Hạ, các đền: Mẫu, Trung, Thượng.

Chùa Bảo An nằm trên xã Cương Sơn, cũng huyện Lục Nam, có từ thời Lê thế kỷ XVIII. Trong hệ thống tượng thờ Tam Tổ Trúc Lâm thì tượng Sơ Tổ Trần Nhân Tông được tạc ở tư thế ngồi trên bệ gỗ ở giữa, ngài Pháp Loa được tạc ngồi bên trái, tượng Huyền Quang bên phải. Chùa cũng có nhà thờ Mẫu theo tinh thần dung hợp tín ngưỡng dân gian.

Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng nằm trên xã Nham Sơn, huyện Yên Dũng, mới được xây dựng từ năm 2011. Phong cách thờ chỉ một tượng Phật Thích Ca Mâu Ni cho thấy tính thiền và rất thoáng rộng. Nhà Tổ cũng như mô hình chung của các chùa Trúc Lâm đều phải có 3 tượng Tam Tổ Trúc Lâm, nhưng có thêm tượng Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Ngay từ những ngày đầu thành lập đã thu hút được nhiều Phật tử quần chúng đến sinh hoạt tu tập và lối thiền vẫn cố gắng bám sát tư tưởng của Tổ Trần Nhân Tông.

Đáng chú ý ở Bắc Giang, từ chùa Vĩnh Nghiêm gắn liền với chùa Côn Sơn, chùa Thanh Mai ở Hải Dương; chùa Quỳnh Lâm, Ngọa Vân, Hồ Thiên ở Đông Triều và Hoa Yên, chùa Đồng ở tỉnh Quảng Ninh. Vì vậy, có thể thấy, các chùa am ở Bắc Giang giữ vị trí quan trọng đối với chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa thời Lý – Trần.

3. VỊ TRÍ CỦA CHÙA VĨNH NGHIÊM TRONG HỆ THỐNG TRÚC LÂM

Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa cổ lớn của Thiền phái Trúc Lâm, là trung tâm Phật giáo thời Trần tại Bắc Giang, giữ vị trí hết sức quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống Trúc Lâm cũng như nối kết với Phật giáo Trúc Lâm tại các tỉnh lân cận cả thời Trần và thời hiện đại. Xuất hiện từ thời Lý, sang thời Trần, chùa hưng thịnh và lớn mạnh về mọi mặt. “Sau khi từ bỏ ngai vàng đi tu, Trần Nhân Tông đã biến ngôi chùa Vĩnh Nghiêm thành trụ sở Trung ương của Giáo hội Trúc Lâm, chứa đủ hồ sơ của tăng ni cả nước. Ông đã tổ chức nhiều lần độ tăng ni, mỗi lần không dưới một nghìn người”.

Phật giáo Trúc Lâm thời Trần ở Bắc Giang là một bộ phận của Phật giáo Trúc Lâm thời Trần, duy trì chuyển tải tư tưởng Phật pháp của Phật giáo Trúc Lâm, khẳng định chùa Vĩnh Nghiêm là một trung tâm quan trọng trong hệ thống Trúc Lâm Yên Tử. Điều quan trọng là cả ba vị Tổ đều lấy chùa Vĩnh Nghiêm làm trung tâm truyền bá Phật pháp của Phật giáo Trúc Lâm thời Trần; gắn bó với các sinh hoạt tăng đoàn quan trọng như an cư kiết hạ, giáo dục tăng ni, hoằng pháp, cố vấn cho triều đình.

Chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang không chỉ giữ tầm đứng đầu của tỉnh Bắc Giang thời đó mà mang tầm cỡ như chùa tổ trong các chùa của quốc gia Đại Việt dưới thời Nhị Tổ. Trần Anh Tông cũng đặc biệt đánh giá cao vị thế, vai trò và những hoạt động tu tập hoằng pháp lớn mạnh của Nhị Tổ Pháp Loa, nên cũng chọn nơi đây làm trụ sở của Phật giáo nhất tông mà không phải các chùa Siêu Loại, Quỳnh Lâm, hay chùa ở khu vực kinh đô Thăng Long. Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận ghi: “Trong hai thế kỷ mười ba và mười bốn, chùa là một trong những cơ sở hành đạo lớn nhất tại kinh sư và Giáo hội Trúc Lâm đã đặt trụ sở tại đây”.

Phật giáo Trúc Lâm phát triển cực thịnh ở thời kì Tam Tổ xiển dương; sau này lui về ẩn núi rừng, nhiều tư liệu bị thất lạc. Sang thời Hậu Lê, Chân Nguyên có công chấn hưng Phật giáo Trúc Lâm, Ngô Thì Nhậm (Hải Lượng Thiền sư 1746 – 1803), được coi như Tổ thứ tư viết tác phẩm nối tiếng Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh. Giai đoạn này, chùa Vĩnh Nghiêm giữ vai trò là trung tâm Phật giáo Trúc Lâm đầu thế kỷ XIX. Sau đó, ngài Thích Thanh Hanh (1840 – 1936) trụ trì có công lớn trong việc tiếp tục phục hưng và khuyến khích tìm tòi sao chép và phổ biến kinh sách. Năm 1964, chùa Vĩnh Nghiêm được xếp hạng Di sản văn hóa cấp Quốc gia, được quan tâm trùng tu và phát triển, năm 2015, chùa được Nhà nước công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt. Chùa có thiết kế thờ tự theo tinh thần Đại thừa Phật giáo, thờ Tam Tổ; nhưng vẫn dung hợp tín ngưỡng, thờ Mẫu (Liễu Hạnh, Mẫu Thoải, bà chúa Thượng Ngàn), thờ Tứ phủ chư vị (Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ và Nhạc phủ).

Cả Sơ Tổ Trần Nhân Tông, Nhị Tổ Pháp Loa, và Tam Tổ Huyền Quang đều chọn chùa Vĩnh Nghiêm là trụ sở chính của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Trần Nhân Tông ngay cả khi ở ngôi hay đã xuất gia cũng có về chùa Vĩnh Nghiêm tham quan, lên kế hoạch cho việc nhập thế của Phật giáo Trúc Lâm, giảng kinh, thuyết pháp. Tại đây, Nhị Tổ Pháp Loa đã có công lớn trong việc cho khắc mộc bản, lưu giữ kinh kệ, nghiên cứu Phật học.

4. NHỮNG HOẠT ĐỘNG CHÍNH CỦA NHỊ TỔ PHÁP LOA TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM

Nhị Tổ Pháp Loa (1284-1330) rất giỏi trên nhiều phương diện; quê ngài ở Hải Dương, thuộc Đồng bằng sông Hồng, giữa các tỉnh Hải Dương – Bắc Giang cũng có nhiều mối liên hệ mật thiết về sử liệu, văn hóa; những nơi sản sinh ra nhiều danh tài đất nước. Năm 1304, Pháp Loa xuất gia với Sơ Tổ Trần Nhân Tông với pháp danh Thiện Lai, học đạo với nhiều thiền sư và ở nhiều chùa khác nhau để trải nghiệm thiền môn, như ngài Tính Giác ở Quỳnh Quán, chùa Báo Ân ở Siêu Loại, am Ngọa.

Nhị Tổ ban đầu có duyên với kinh Hoa Nghiêm, nguyện tu theo mười hai hạnh đầu đà. Năm 1308, ngài được chính thức làm Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm; vua Anh Tông và triều đình rất nể vị; Ngài lãnh đạo Phật giáo nhất tông với nhiều nét mới, số người xuất gia theo học rất đông; ngài cho in ấn, khắc Đại tạng kinh, đúc tượng Phật. Năm 1329, Nhị Tổ “đã cho xây dựng hai ngôi chùa lớn Báo Ân và Quỳnh Lâm, năm ngọn tháp và 200 tăng đường, là người đầu tiên xây dựng nên thiền viện Quỳnh Lâm ở Việt Nam”.

Thời Pháp Loa đứng đầu Giáo hội, mỗi năm thọ giới phải loại ra hàng nghìn người, đến năm 1329, “số tăng sĩ đã được xuất gia trong những giới đàn do Giáo hội Trúc Lâm tổ chức dưới quyền lãnh đạo của Pháp Loa là trên 15.000 vị”. Tính đến khi viên tịch (năm 1330), “Sư đã độ hơn 15.000 tăng ni, in một bộ Đại tạng kinh. Những đệ tử đắc pháp hơn 3000 người đã liệt kê ở lược đồ. Pháp sư có 6 người, như Tuệ Nhiên, Tuệ Chúc, Hải Ản v.v… đều hành pháp đắc lực. Còn Hoang Tế và Huyền Giác hiện đang chăm sóc tháp của Sư”.

Trong vòng 22 năm, Nhị Tổ đã hoằng đạo với trí tuệ đức tâm “Thật tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn hạnh muôn trung bất xã nhất pháp”1 (Trên lý thuyết chẳng dính chút bụi trần, nhưng việc làm thì không việc nào mà không bị vướng mắc). Nhị Tổ Pháp Loa nổi tiếng với nhiều trước tác, đáng chú ý là tác phẩm Tam Tổ thực lục ghi lại cuộc đời hành trạng của ba vị Tổ thuộc Thiền phái Trúc Lâm đời Trần.

Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận ghi: “Năm Quý Sửu (1313) Pháp Loa phụng chiếu đến cư trú tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang, đã đặt Văn phòng Trung ương hội ở đó”2. Thời Nhị Tổ Pháp Loa lãnh đạo Phật giáo Trúc Lâm đặt trụ sở tại chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang cũng là thời điểm lần đầu tiên có tăng tịch với cả nước; tăng ni đông nên các kì thọ giới loại ra cả nghìn người: “Năm 1329 số tăng sĩ đã được xuất gia trong những giới đàn do giáo hội Trúc Lâm tổ chức dưới quyền lãnh đạo của Pháp Loa là trên 15.000 vị. Về tự viện, năm 1313 có tới trên 100 ngôi chùa”3.

Nhị Tổ ít đề cập đến Phật học siêu hình, Thiền tông mang tính hoàn toàn đốn ngộ như Trần Thái Tông hay Tuệ Trung Thượng Sĩ, ngài chỉ nêu đơn giản cụ thể những vấn đề ứng dụng tu tập hài hòa thân – khẩu – ý. Theo Ngài: “Trí tuệ chúng ta cùng với trí tuệ Phật tuy bình đẳng, song Phật, Bồ tát là người giác ngộ, chúng ta thì mê, phải có nhận thức chân chính như vậy mới không có sự ngộ nhận sai lầm về giáo nghĩa của Phật giáo”4. Ngài kế thừa Sơ tổ tiếp tục kế thừa và phát triển Thiền phái Trúc Lâm mang một bản sắc người Việt, an dân hộ quốc.

KẾT LUẬN

Có thể nói, chùa Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang giữ vị trí vô cùng quan trọng đối với Phật giáo Trúc Lâm thời Trần và quốc gia Đại Việt lúc bấy giờ. Chùa cũng có vị trí địa lý gắn bó chặt chẽ với giao thông gắn kết các tỉnh lân cận, nơi đây lưu dấu nhiều hành trạng và các hoạt động Phật sự của Tam Tổ cũng như vua quan nhà Trần, nhất là vai trò của Nhị Tổ Pháp Loa

Hệ thống các chùa Trúc Lâm thuộc Bắc Giang khá dày đặc, gắn liền với các đền, miếu mang tính dân gian. Nhiều ngôi chùa giữ vị trí đặc biệt trọng yếu trong giao thông, có ý nghĩa về mặt bảo tồn văn hóa, các giá trị vật thể và phi vật thể. Hiện nay, quần thể chùa Trúc Lâm và trung tâm Phật giáo Trúc Lâm thời Trần – chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang hiện đã và đang được khai thác các giá trị nội điển Phật giáo cũng như tinh thần Bồ tát hạnh nhập thế của chư tăng ni Phật tử nhưng vẫn chưa được khai thác một cách triệt để.

Trong Tam Tổ Trúc Lâm, Sơ Tổ Trần Nhân Tông có công đặt nền móng phát triển, tiếp thu từ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ; Nhị Tổ Pháp Loa phát triển mạnh cả về cơ sở thờ tự, đào tạo tăng ni, giáo dục Phật học, hoằng pháp, nhất là chú trọng nội điển, tuyển người tu tập nghiêm ngặt theo đạo lộ bậc Thánh; Tam Tổ tiếp tục hoàn thiện và phát triển. Trong đó, chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang lưu lại nhiều dấu ấn của Nhị Tổ đóng góp cho Phật giáo và đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang (2011), Bảo tồn phát huy các giá trị di sản văn hóa Lý – Trần tỉnh Bắc Giang, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, NXB. Thông Tấn, Hà Nội.
  2. Thích Minh Châu (dịch), Kinh Tương Ưng (2014), Tập 1, “Tương Ưng Ác Ma – Bẫy Sập”, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
  3. Nguyễn Xuân Cần (Chủ biên) (2004), Chốn tổ Vĩnh Nghiêm, Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Bắc Giang.
  4. Hà Văn Tấn, Phạm Ngọc Long, Nguyễn Văn Kự (1993), Chùa Việt Nam, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  5. Tịnh Không (2005), Phật giáo là gì, Thích Tâm An dịch, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
  6. Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận tập I-II-III, NXB. Văn học, Hà Nội.
  7. Quốc sử quán triều Nguyễn, (1971), Đại Nam nhất thống chí, tập 4, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  8. Thích Phước Sơn dịch và chú (1995), Tam Tổ thực lục, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
  9. Thích Minh Tuệ (1993), Lược sử Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh.
  10. Thích Tanh Từ (1997), Tam Tổ Trúc Lâm giảng giải, Thiền Viện Thường Chiếu, Tp. Hồ Chí Minh.
.
.
.
.