ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐÓNG GÓP CỦA NỘI QUAN… (HOẠN QUAN) TẠI VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP ĐẶC THÙ Ở BẮC GIANG VỚI ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG TÂM PHẬT GIÁO TRÚC LÂM

NNC. Hầu Lâm Phùng, Học viên Cao học, Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng, Viện Triết học phát triển; TS. Ngô Hồ Anh Khôi, Liên hiệp các tổ chức UNESCO Việt Nam

Tóm tắt: Ảnh hưởng của Phật giáo đến các mặt của đời sống cũng như tác động của nó lên lịch sử đã được khảo cứu bởi nhiều nghiên cứu trên Thế giới lẫn Việt Nam, thế nhưng ảnh hưởng của Phật giáo đến nội quan (thái giám hay hoạn quan) hay rộng hơn là cộng đồng LGBT (cộng đồng thiểu số bản dạng giới: đồng tính, song tính và hoán tính) trong đời sống cũng như tác động của nó lên lịch sử lại hầu như rất ít nhà nghiên cứu hướng đến, và đặc biệt trong bối cảnh lịch sử Việt Nam lại càng hiếm hoi hơn nếu không muốn nói đây là vấn đề gần như bỏ ngỏ. Nhóm nghiên cứu cho rằng ảnh hưởng của Phật giáo đến đóng góp của nội quan (hoạn quan) lên lịch sử Việt Nam là rất đặc thù, dẫn đến sự khác biệt rất lớn về mặt cống hiến lịch sử của nội quan tại Việt Nam nếu so sánh với tình hình nội quan tại Trung Hoa, mà theo chúng tôi là do tương quan ảnh hưởng giữa Phật giáo và Nho giáo trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Nhằm minh chứng cho giả thiết này, nhóm nghiên cứu xin khảo sát chủ đề này trong trường hợp đặc thù ở Bắc Giang với ảnh hưởng của Trung tâm Phật giáo Trúc Lâm.

Từ khoá: nội quan, Bắc Giang, ảnh hưởng Phật giáo, pandaka, văn bia Bắc Giang. 1. GIỚI THIỆU

Đi từ việc so sánh tình hình hoạn quan trong các triều đại phong kiến của Trung Hoa và Việt Nam, nghiên cứu phát hiện một số đặc điểm rất riêng biệt của vấn đề hoạn quan tại Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu đi đến kết luận rằng chính nhờ sự sùng Phật giáo của một số triều đại phong kiến Việt Nam mà các nhân tài nội quan (hoạn quan hoặc thái giám) được bộc lộ và có điều kiện được cống hiến cho xã hội, trong khi với sự thống trị của Nho giáo trong các thời kỳ khác của lịch sử Việt Nam, đều không thấy xuất hiện các nhân tài nội quan có cống hiến trong chính trường lẫn văn hoá dân tộc. Sự xuất hiện xuất sắc của những nội quan, ngoài những vấn đề tài năng kiệt xuất mang tính cá nhân, cá tính của họ đã được phân tích bởi rất nhiều nghiên cứu khác, cần được xem xét trong bối cảnh ảnh hưởng của Phật giáo, và nên coi đó như là một minh chứng cho nhận định về ảnh hưởng tích cực của Phật giáo lên lịch sử Việt Nam. Hướng tiếp cận này dường như chưa được quan tâm nghiên cứu mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu riêng về cống hiến cũng như tài năng của họ, vì vậy, hi vọng nghiên cứu này sẽ làm sáng tỏ phần nào nhận định trên.

Chẳng hạn, có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra tài lãnh đạo của Tả quân Lê Văn Duyệt, coi đó như một phẩm chất cá nhân nhưng hầu như chưa thấy nghiên cứu nào đặt ông vào trong bối cảnh của vai trò hoạn quan trong các triều đại phong kiến Việt Nam, để nhận thấy sự xuất hiện kỳ tích của ông có ít nhiều gắn liền với sự thịnh hành quan điểm Phật giáo về hoạn quan, tương tự sự xuất hiện của Lý Nhân Nghĩa, Lý Thường Kiệt thời Lý; Phạm Ứng Mộng thời Trần; Lương Đăng đầu thời Lê; Hoàng Ngũ Phúc, Tả Chí Hầu, Tuyền Tiên, Hoàng Công Tiến, Dương Hữu Ân, Dương Công Tạo, Hoàng Công Phú, Hoàng Đạo Hiền, Đỗ Nguyễn Thụy thời chúa Trịnh, chúa Nguyễn,… đều xuất hiện trong thời kỳ Phật giáo được hưng thịnh. Ngược lại, vào các vương triều mà Phật giáo không được coi trọng, Nho giáo được hưng thịnh thì hầu như hoạn quan không có đóng góp gì cho xã hội và vương triều. Nghiên cứu cho rằng, không phân tích về đóng góp về tầm ảnh hưởng của quan điểm Phật giáo đối với vấn đề hoạn quan là một thiếu sót lớn. Đó là điều mà nghiên cứu này muốn làm rõ nhằm chỉ ra bối cảnh đặc biệt dưới ảnh hưởng Phật giáo mà các hoạn quan được tham chính và đóng góp cho xã hội, điều tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của rất nhiều nhân vật kiệt xuất của dân tộc. Trong bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu sẽ tập trung lý giải hiện tượng xuất hiện số lượng rất lớn văn bia có liên quan đến công tích của các vị hoạn quan tại Bắc Giang, như một minh chứng cho ảnh hưởng của Phật giáo đến đóng góp của nội quan tại Việt Nam, điều mà nghiên cứu muốn khẳng định.

Nghiên cứu sẽ trình bày trước hết về sơ lược các quan điểm về hoạn quan, chủ yếu quan điểm của Phật giáo và Nho giáo, hai tôn giáo ảnh hưởng lên quan điểm của các vương triều phong kiến Việt Nam, sau đó tập trung phân tích ảnh hưởng của Phật giáo đến đóng góp tích cực của nội quan Việt Nam. Sau đó, nghiên cứu dẫn chứng bằng trường hợp điển hình của Bắc Giang dưới ảnh hưởng của Trung tâm Phật giáo Trúc Lâm, như các trường hợp Tri thị nội thư, Tả lại phiên, Thị nội giám, Tư lễ giám, kiêm Thái giám, Xác Lộc hầu Phùng Đức Nhuận; Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Nội phủ giám Tổng thái giám Chưởng giám sự Dương Nghĩa hầu Thân Thạc Vọng; Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Đô Thái giám Tham tri cung môn thừa chế sự Trình Xuyên hầu Ngô Văn Khuê; Tổng Thái giám, Cai kỳ quan, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Thần vũ tứ vệ quân vụ sự, Tham đốc Bắc quân, Thái bảo chí sĩ, Thái thọ hầu Nguyễn Giáp Thái; Thừa chế giám sự Nghiêm Vũ hầu Nguyễn Hữu Lễ; Dực vận tán trị công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Nội phủ giám, Đô Thái giám, Chưởng giám, Đô đốc Ninh Quận công Thân tướng công; Đặc tiến phụ quốc, Thượng tướng quân, tả đô đốc, Phương quận công Ngọ Công Quế; Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thị Nam cung, Phó thủ hiệu Tiền tượng cơ, Phó cai quan, Tri thị nội Thư tả Binh phiên, Thị cận, Thị nội giám, Ty lễ giám, Tổng Thái giám, Đô chỉ huy sứ, phong tặng Tham đốc Thượng trụ quốc Lập Quận công Giáp Đăng Luân; Đông cung tri Thị nội Thư tả lễ phiên thị nội Giám tư lễ giám Tổng thái giám Thự vệ sự Vân Quận công Đỗ Bá Phẩm; Thái giám Quận công Nguyễn Đức Dung; thái giám Tham nghị Nguyễn Minh Phái; trước khi đi đến phần Kết luận.

2. TỪ KHÁI NIỆM PANDAKA CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN KHÁI NIỆM THÁI GIÁM (NỘI QUAN) CỦA NHO GIÁO

Quan điểm của Phật giáo

Nội quan hay hoạn quan được nhắc đến trong quan điểm Phật giáo thông qua khái niệm về Hoàng Môn hay Paṇḍaka. Páṇḍaka hoặc Paṇḍraka (पणड् र् क) trong tiếng Sanskrit hay Paṇḍaka trong tiếng Pali, tiếng Prakrit: paṁḍa-, paṁḍaga-, paṁḍaya, được dùng để diễn tả những trường hợp giới tính khác biệt. Trong văn bản Hán tạng, Paṇḍaka (Sanskrit) được dịch với các thuật ngữ “Hoàng môn” (黃門) Huỳnh môn, “Bất năng nam” (不能 男), “Bán-trạch-ca” (半擇迦); Ban-tra, Ban-đô-ca, Bán-trạch, Bán-thác-ca, “Vô căn” (無根). Ubhatovyañjanaka (Pali) được dịch với các thuật ngữ “Nhị hình” (二形); hay “Hai hình”, Nhị căn (二根) được đề cập đến trong văn bản luật Hán tạng như Ma-ha-tăng-kỳ luật, Tứ-phần luật, Thập-tụng luật… Páṇḍaka không chỉ được tìm thấy ở các bộ Luật, mà ở các bộ luận như Samantapāsādikā của ngài Buddhaghosa, Abhidharmasamuccaya của ngài Asaṅga, Sphuṭārthā-Abhidharmakośa-vyākhyā của ngài Yaśomitra. Theo đó, Paṇḍaka được đại đa số các văn bản phân thành năm loại: Biến hoàng môn (變黃門) hay Āsittapaṇḍaka, Đố hoàng môn (妒黃門) hay Usūyapaṇḍaka, Kiền hoàng môn (犍黃門) hay Opakkamikapaṇḍaka, Bán nguyệt hoàng môn (半月 黃門) hay Pakkhapaṇḍaka, Sanh hoàng môn (生黃門) hay Napuṃsakapaṇḍaka. Trong đó, có hai loại Hoàng Môn trực tiếp liên quan đến vấn đề nội quan. Một là, Opakkamikapaṇḍaka, Tứ – phần luật gọi là Kiền hoàng môn (犍黃門), và giải thích: người bị thiến, bị cắt bỏ bộ phận sinh dục (犍 者生己都截去 作黃門). Hai là, Napuṃsakapaṇḍaka: Tứ – phần luật gọi là Sanh hoàng môn (生黃門), giải thích là khi sinh ra đã là hoàng môn (生者生己來黃門), người sinh ra không có cơ quan sinh dục, nếu có thì cũng không rõ ràng.

Mặc dù Hoàng môn hay Nội quan được xem là chưa sẵn sàng để xuất gia trong kiếp sống hiện tại, theo luật Phật giáo, nhưng thái độ của Phật giáo với nội quan dường như cởi mở hơn so với luật Manu. Sự khác biệt của nội quan được Phật giáo xem như khác biệt còn thiếu sót về nghiệp như tất cả các chúng sinh khác trong Pháp giới. Trong giới luật của Đức Phật, vai trò bình đẳng của Hoàng môn về khía cạnh xã hội được đề cập trong Ma-ha-tăng-kỳ luật “Không cho: Nếu vật của người Hoặc nam, người nữ, hoàng môn, nhị hình, tại gia, xuất gia không cho mà Tỳ-kheo dùng tâm trộm cắp để lấy, thì tùy theo vật lấy (mà phạm tội)”, Thập- tụng luật cũng có nhắc đến điểm này.

Cho đến Phật giáo Đại thừa, quan điểm về thân thể hay giới tính không phải là rào cản của việc thực hành tâm linh được phát triển. Như Du – Già Luận Ký quyển 9 đề cập đến chi tiết trượng phu chuyển căn, hoại mất nam căn để thực hành tánh thí; chi tiết hoại căn để thực hành bố thí cũng được nhắc đến trong kinh Bi Hoa quyển X phẩm Pháp bố thí. Trong Duy Ma Cật sở thuyết (Vimalakīrtinirdesha Sutra) ở phẩm Quán chúng sinh, cũng nhắc đến chuyện Thiên nữ chuyển đổi thân nam nữ, để nhấn mạnh ý “Tất cả pháp phi nam, phi nữ”. Chính vì thế, Phật giáo dành nhiều cơ hội cho nội quan để thực hành Tâm bồ đề, Bồ Đề Tâm Quán Thích nhắc đến Tâm bồ đề siêu việt ra ngoài biên giới nhị nguyên, không bị trói buộc bởi nam nữ hay hoàng môn. Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, quyển VI nhắc đến chi tiết với sự mến mộ Phật pháp thì hoàng môn hay nhị căn đều có thể được thọ Tam quy. Ý này cũng được triển khai trong Phạn Võng Bồ tát Giới Bổn, theo đó dù là Hoàng môn mà hiểu được chân nghĩa mà pháp sư truyền giới, đều có thể thọ giới và được giới, và trở thành người thanh tịnh bậc nhất.

Quan điểm của Nho giáo

Ở Trung Hoa, thái giám hay nội quan được thịnh hành và thể chế hoá vai trò: ban đầu theo các sách Chu lễ và Kinh lễ, hoạn quan được gọi là Tư nhân hay Yêm doãn. Về sau có nhiều tên gọi khác như Thị nhân, Yêm nhân, Yêm hoạn, Hoạn giả, Trung quan, Nội quan, Nội thần, Nội thị, Nội giám, Thái giám, Hoàng môn… Đời Tần Hán, Hoạn quan thuộc về Thiếu phủ tự. Đến các đời Tuỳ, Đường, Tống thì Hoạn quan thuộc về Nội thị tỉnh. Đến đời Minh, cơ cấu tổ chức của Hoạn quan trở nên phức tạp được gọi là Nội Phủ Nha Môn, tổ chức chia làm nhị giám, tứ ti, bát cục. Đến đời Thanh, các Hoạn quan thuộc Phủ nội vụ, chia làm bốn bậc: tổng quản thái giám (lục phẩm), thủ lãnh thái giám (thất phẩm), phó thủ lãnh thái giám (bát phẩm), thái giám thường (không có phẩm trật).

Quan niệm về nội quan của Nho giáo, hay cụ thể hơn là thái độ của Nho thần có thể khái quát qua mấy điểm: vô hiếu do không thể nối dõi, có quyền lực bất chính, từ đó dẫn làm rối loạn triều đình. Theo Takashi Hasuda trong quan niệm Nho giáo, hoạn quan được xem như một tồn tại kém hơn tầng lớp bình dân và kẻ vô hiếu, sự thối nát của triều đình được cho là bởi hoạn quan nắm quyền và giữ vai trò trọng yếu. Tạ Chí Đại Trường nhận định: “Sử quan nho học xưa cứ mỗi lần đặt bút xuống là chê hoạn quan dốt nát, ngay cả khi có dịp khen thì cũng chỉ nhìn theo vị trí đầy tớ của họ mà thôi”. Các sử quan nho học thường sử dụng bút pháp Xuân thu để “ngụ bao biếm, biệt thiện ác”, nên cách dùng từ ngữ cũng thể hiện thái độ của họ. Tạ Chí Đại Trường dẫn ví dụ Phan Huy Chú viết Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí, khi chép về Lý Thường Kiệt, Hoàng Ngũ Phúc đã dùng chữ “tự thiến”, mà theo ông là ngầm có ý hạ thấp tư cách, ám chỉ sự cầu cạnh. Theo Rhoads Murphey, các học giả Nho giáo xem hoạn quan là những kẻ có quyền lực bất chính; khi nắm quyền lực lớn trong triều đình, nhưng lại không thông qua hệ thống khoa cử. Quyền lực mà nội quan đạt được chính nhờ vai trò “trung gian” giữa nhà vua và quần thần; theo Wen Boling, ông dẫn ra ví dụ về cấu trúc thời Đông Hán chính là: Hoàng gia, Ngoại thích – Thái giám, Hào môn để làm rõ vai trò trung gian của thái giám trong cơ chế của chính thể phong kiến Trung Hoa.

3. ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐÓNG GÓP TÍCH CỰC CỦA NỘI QUAN VIỆT NAM

Tình hình nội quan ở Việt Nam, từ giai đoạn Lý – Trần thịnh hành Phật giáo, cho đến giai đoạn Lê – Nguyễn khi Nho giáo thịnh hành rồi chuyển sang có sự cân bằng với Phật giáo về sau. Các hoạn quan thời kỳ đầu như Lý Nhân Nghĩa hay Lý Thường Kiệt là những bậc hiền tài, giúp vua giữ nước dẹp loạn hay đến thời Trần cũng có xung đột mâu thuẫn giữa nội quan và nho thần, nhưng vua Trần Nhân Tông với tinh thần Phật giáo đã đứng ra hoà giải. Có thể thấy, giai đoạn này hoạn quan ít bị kì thị, cũng như có sự gần gũi với Phật giáo. Đến giai đoạn thời Lê, mâu thuẫn giữa hoạn quan và nho thần trở nên có chiều hướng căng thẳng, thiếu sự điều hoà cân bằng; thời điểm này, tư tưởng Phật giáo vẫn có ảnh hưởng nhất định đến các hoạn quan. Về giai đoạn vua Lê chúa Trịnh, hoạn quan trong môi trường bị kì thị bởi nho thần bắt đầu có tâm lý phản nghịch, san sẻ quyền lực và tham dự vào chuyện triều chính. Thời Nguyễn, khi Phật giáo phát triển trong dân gian, cũng theo đó mà ảnh hưởng đến tư tưởng và cách nhìn của các hoạn quan về đời sống.

Trong giai đoạn mà Phật giáo có sức ảnh hưởng đến xã hội, có vị trí trong vương đình, được các vua và triều thần lắng nghe ý kiến cố vấn của các thiền sư thì nội quan không bị hạn chế tài năng. Như thời Lý có Lý Nhân Nghĩa trung thành, có khả năng ngoại giao và được các vua từ Lý Công Uẩn đến Thái tử Lý Phật Mã tín nhiệm để giao trọng trách. Lý Nhân Nghĩa là nội quan đầu thời Lý, ông phò tá hai đời vua là Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông, là người sùng đạo Phật, với việc am hiểu Phật pháp, hỗ trợ dựng lại các chùa và tự ông xây dựng chùa. Lý Thường Kiệt (1019-1105) trải qua ba đời vua là Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, làm đến chức Thái uý, đánh Tống bình Chiêm, công lao to lớn, khi mất được phong là Việt Quốc Công sùng kính Phật giáo, “Thái úy Lý Thường Kiệt là thí chủ cúng dâng nhiều tài sản, sư đều dùng hết vào việc Phật: trùng tu các chùa Pháp Vân, Thiền Cư, Thế Tâm, Quảng An để báo đáp công ơn pháp nhũ”1, am hiểu về Phật pháp “Thái úy tuy thân vướng việc đời, mà lòng vẫn hướng về đạo Phật”, “thỏa được tính sáng, mở được lòng mê, bằng cách tùy theo cái căn tính lanh lợi hay ngu dần mà chi cho phép “đốn” hay phép “tiệm” 2. Thời Trần, từ Thái Tông Hoàng đế thì nội quan đã được sắp xếp sử dụng đúng với khả năng; nội quan Nguyễn Bang Cốc3 có đóng góp lớn trong việc đào vét kênh đào để đảm bảo nông nghiệp từ Phủ Thanh Hoá đến phía nam Diễn Châu, việc hoàn thành được ban làm Phụ quốc thượng hầu; nội quan Phạm Ứng Mộng làm đến chức hành khiển. Đến đời vua Trần Nhân Tông, vai trò trung gian của nội quan được điều phối tài tình; hoạn quan Trần Hùng Thao kiêm chức Kiểm pháp quan trong vụ án khó Đỗ Thiên Thư, và việc nội quan làm kiểm pháp được xem là bắt đầu từ ông. Không chỉ ở trong vương đình, mà quan niệm trong dân gian thời Trần cũng cởi mở không định kiến với thái giám. Thời Trần, có đền Hoa Dương có vị quan thái giám họ Du được dân tôn là Thành Hoàng thờ ở đình Hiến. Thời Chúa Nguyễn (1965), Tổng thái giám Hoa Lễ Hầu Mai Phúc Hòa nghe danh Thiền sư Minh Châu – Hương Hải (1628-1715), bèn cho thuyền ra đảo Tiêm Bút La (cù lao Đại Lãnh) về đất liền lập đàn tràng cầu cho hết bệnh lao. Ông cũng quy y với thiền sư Hương Hải. Bên cạnh đó, chùa Thuyền Tôn là tổ đình gắn liền với Tổ Liễu Quán, ban đầu chỉ là thảo am do ngài dựng để tu hành (1708), về sau các vị thiền sư Tế Hiệp – Hải Điện trùng tu lại (1746-1747) với sự đóng góp công quả của Chưởng thái giám Mai Văn Hoan; pháp danh Tế Ý đời chúa Nguyễn Phước Hoạt hỗ trợ cùng thập phương tín chúng hai phủ Triệu Phong xứ Thuận Hóa và phủ Quảng Ngãi xứ Quảng Nam thời bấy giờ hỗ trợ chú tạo đại hồng chung năng hơn 855 cân, đề niên hiệu Cảnh Hưng thứ tám. Đến nhà Nguyễn, có Lê Văn Duyệt là một trong những nội quan có ảnh hưởng quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Tả Quân Lê Văn Duyệt (1763-1832) là khai quốc công thần triều Nguyễn. Lê Văn Duyệt bước lên con đường binh nghiệp trong bối cảnh tư tưởng Phật giáo ảnh hưởng các chúa Nguyễn, sự cởi mở không định kiến về thân phận (nội quan), chỉ chú trọng thực lực tài năng của Nguyễn Ánh với Lê Văn Duyệt đã khiến ông có cơ hội bộc lộ tài hoa.

Ở triều Lê, nhất là sau thời Lê Thái Tổ cho đến cả giai đoạn Lê Trung Hưng, là giai đoạn mà Phật giáo lui về ở trong dân gian, mâu thuẫn giữa các hoạn quan và nho thần trở nên gay gắt, dẫn đến thái độ vị kỷ của các vị nội quan khi nắm được quyền lực. Chẳng hạn ở Đàng Trong của chúa Trịnh, Ông già Tư Lễ hay Hoàng Nhân Dũng (黄仁勇), được chúa Trịnh Tráng tin cậy đến mức được ban quốc tính là Trịnh Lãm (鄭欖), về sau vì có âm mưu phản nghịch mà bị giết. Cho đến tư liệu của J. Richard (1778) nhắc đến việc chúa Trịnh Giang trọng dụng Hoàng Công Phụ khiến ông lạm quyền trong thời gian dài đến khi Trịnh Doanh lên thay thế. Hay chuyện Hoàng Ngũ Phúc tham chính, ảnh hưởng đến việc bắt giam Thái tử Lê Duy Vỹ. Sau Lý Thường Kiệt, Hoàng Ngũ Phúc là nội quan có sự thăng tiến trong sự nghiệp bằng con đường binh nghiệp được phong Trấn thủ Kinh Bắc kiêm thống lĩnh Bắc đạo, tước Việp quận công về sau, vu cho thái tử tư thông với người phủ thiếp của Trịnh Doanh, rồi đem tội trạng ấy tâu bày với nhà vua bắt thái tử giam vào ngục.

Việc nội quan không chỉ tham gia triều chính mà còn đích thân tham gia vào con đường binh nghiệp, được coi là đỉnh cao của giai đoạn trọng dụng nội quan: đó là dưới ảnh hưởng ôn hoà của Phật giáo như thời Lý với Lý Thường Kiệt và thời Nguyễn với Lê Văn Duyệt, họ được bộc lộ tài năng và dường như không xảy ra vấn đề hoạn quan chuyên quyền; trường hợp thứ hai, là khi sức ảnh hưởng Nho thần suy yếu như thời vua Lê chúa Trịnh, Hoàng Ngũ Phúc nắm quyền nhưng cũng tham gia việc truất phế thái tử. Không chỉ cởi mở, bao dung với nội quan ở Việt Nam, Phật giáo còn có vai trò thúc đẩy sự hoà hợp giữa nho thần và nội quan. Như trong vấn đề bất hoà giữa hàn lâm Đinh Củng Viên và nội quan Lê Tông Giáo đã nêu ở trên, vua Trần Nhân Tông; sơ tổ Trúc Lâm hay Trúc Lâm Đại sĩ (竹林大士) đã nhìn thấy sự mâu thuẫn ấy và đứng ra hoà giải, khiến cho mối quan hệ giữa nho thần và nội quan trở nên gắn bó, không còn mâu thuẫn xung đột. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Vua về trong cung, gọi Tòng Giáo dụ bảo: “Củng Viên là sĩ nhân, ngươi là trung quan sao lại bất hòa đến thế? Ngươi là lưu thủ Thiên Trường, dùng con rươi quả quýt đi lại, đưa tặng lẫn nhau thì có việc gì?” Từ đó, Tòng Giáo và Củng Viên giao hảo với nhau càng gắn bó.” Ngược lại ở thời Lê, việc thiếu vắng vai trò điều hoà của Phật giáo khiến cho mâu thuẫn giữa nội quan và nho thần trở nên gay gắt hơn nhiều. Giai đoạn Nho giáo có sức ảnh hưởng, Phật giáo tuy vào trong dân gian nhưng vẫn tiếp tục duy trì sức ảnh hưởng của mình ở vương đình thông qua các nội quan. Những nguồn tư liệu văn bia ở Bắc Giang về thái giám cung cấp cho chúng ta hướng tiếp cận mới thông qua các di sản mà nội quan đã đóng góp, xây dựng liên quan đến Phật giáo ở giai đoạn Lê Trung Hưng, từ thời Hoàng Định (1601-1619) đến Cảnh Hưng (1740-1787).

4.TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH CỦA BẮC GIANG DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG TÂM PHẬT GIÁO TRÚC LÂM

Nguồn tư liệu văn bia cũng cung cấp nhiều chi tiết liên quan đến nội quan, cho thấy sự ảnh hưởng của Phật giáo đến nội quan diễn ra ở nhiều nơi với các hình thức đóng góp khác nhau như tượng Hậu thần của nội quan ở chùa Nành Hà Nội, hay nghĩa trang các thái giám triều Nguyễn tại chùa Từ Hiếu Huế. Nhưng đặc sắc vẫn là ở Bắc Giang với hệ thống văn bia về thái giám với 161 văn bia phản ánh về 126 nội quan dưới thời Lê Trung Hưng, đứng đầu về số lượng tại Việt Nam. Lý giải sự đặc sắc này, nhóm nghiên cứu cho rằng sau thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo ở vương triều Lý – Trần, các nội quan có tài tập trung hướng về Bắc Giang là bởi đây là trung tâm Phật giáo cuối cùng còn được biết đến với tầng lớp thống trị vốn đã hoàn toàn thuộc về Nho giáo, với niềm kiêu hãnh hồi tưởng về quá khứ huy hoàng của nội quan, nơi mà sự cống hiến nội quan được ghi nhận và tôn vinh bởi tầng lớp thống trị, cùng với niềm mong ước một nơi để nương tựa tâm linh, vốn chỉ diễn ra dưới quan điểm rất nhân văn của Phật giáo.

Ở nhiều nơi, có thể thấy dấu tích các văn bia về thái giám. Văn bia Trùng tu Cổ Lũng tự miếu bi ký, tại chùa Cổ Lũng thôn Đình Cả xã Nội Duệ tổng Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh ghi chép lại việc Cơ Quận công Đỗ Nguyễn Thụy người thôn Đình Cả xã Nội Duệ, huyện Tiên Du, xứ Kinh Bắc làm đến chức Tổng Thái giám thế kỷ thứ XVIII. Hay văn bia tại sinh từ của Thái giám họ Nguyễn tại Dương Cốc, Quốc Oai ghi lại việc dân bầu ông làm hậu thần do công đức với dân “Bản xã đã được ông che chở giúp đỡ nên rất cảm động”. Hay sự góp mặt liên quan đến vấn đề ruộng đất với nhà chùa như trong văn bia chùa Tam Bảo nhắc đến Tư lễ giám, Tổng thái giám tham tri, Giám sự Phúc Dương Bá Nguyễn Tử Lan. Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một pho tượng của thái giám Khánh Lương hầu Thạch qui công được đặt làm hậu thần ở chùa Nành, xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm, Hà Nội, theo lệ đặt hậu trong chùa đình, người có công đóng góp sẽ được trả ở bằng cách bầu làm hậu ở đình hay hậu ở chùa, việc dựng bia ký khá phổ biến nhưng việc dựng tượng khá hiếm gặp.

Trở lại với hệ thống văn bia về thái giám ở Bắc Giang, hiếm có nơi nào mà số lượng văn bia nhiều và đa dạng về nội dung như tại đây, đây là nguồn tư liệu quý giá khi tiếp cận sự ảnh hưởng của Phật giáo đến đóng góp của nội quan tại Việt Nam. Văn bia đã phản ánh những đóng góp của các quan thái giám, trong đó việc xây dựng tôn tạo các ngôi chùa thờ Phật chiếm số lượng lớn. Ngoài ra, còn có bia ghi việc tạo tượng, đúc chuông, xây dựng bến đò tam bảo, đóng góp giúp dân nộp thuế. Hiện tượng đặc thù này của Bắc Giang có thể lý giải qua hai nguyên: Thứ nhất sự hoạt động tích cực của các nội quan về việc đóng góp xây dựng các công trình, hỗ trợ người dân trong hoàn cảnh khó khăn chính là do sự ảnh hưởng tích cực của Phật giáo. Phật giáo tin vào luân hồi tái sinh, chính vì thế việc tu tâm tích đức tạo cho các nội quan một con đường để hướng thiện, thấy được giá trị của bản thân, không rơi vào bế tắc cực đoan.

Có thể thấy, văn bia ở chùa Cả là “Trùng tu Phúc Nghiêm tự” ghi nhận công tích của Xác Lộc hầu Phùng Đức Nhuận, ông giữ chức vị Kim tử vinh lộc đại phu, Thị nội giám, Tư lễ giám, Đồng tri giám sự Xác Lộc hầu, trước hầu cận trong cung cấm, sau lại đem lòng làm việc thiện nên đem gia tài của mình để mời thợ về sửa chữa điện thờ, tu tạo hành lang chái chùa trở nên quy mô rộng mở hơn, lại thay gỗ thành đá để bền vững với thời gian. Đặc biệt hơn, ông còn cúng ruộng cho chùa để lo việc chung1, gọi là “ruộng Hậu Phật”. Xác Lộc hầu Phùng Đức Nhuận sinh năm Quý Sửu (1673), mất ngày 26 tháng 7 năm Tân Hợi (1731). Ông quê ở làng Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Thời gian làm quan của Xác Lộc hầu Phùng Đức Nhuận trải qua ba đời vua: Lê Hy Tông (1663-1716); Lê Dụ Tông (1679-1731); Lê Thuần Tông (1699-1735) và tương ứng hai đời chúa: Trịnh Căn (1633-1709); Trịnh Cương (1686-1729). Công trạng của ông được văn bia niên hiệu Vĩnh Khánh nguyên niên dựng năm 1729 ở chùa Cả (hiện ở gần trường phổ thông cơ sở xã Nội Hoàng) ghi chép về việc hậu thần trong đó nói tới công trạng của ông như sau: “Vị quan trọng yếu của triều đình giữ chức Tri thị nội thư, Tả lại phiên, Thị nội giám, Tư lễ giám, kiêm Thái giám, Xác Lộc hầu Phùng Lệnh công. Nay bản xã trên dưới cùng ghi công nhớ ơn của ông, mong muốn được báo đáp, mọi người nguyện tôn thờ hai bên dòng họ nội ngoại của ông.”. Có thể thấy, ông từng giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình như “Tri thị nội thư, Tả lại phiên, Thị nội giám, Tư lễ giám, kiêm Thái giám, Xác Lộc hầu”. Trong giai đoạn ông tại vị đã thực hiện việc giao thương với ngoại quốc, góp phần tạo ra các nguồn kinh phí quốc gia và điều tiết rất hiệu quả quốc khố của triều Lê thời bấy giờ. Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong vương đình, mà ông còn là người nặng lòng với nhân dân quê hương, và đạo pháp. Công tích của ông được ghi chép chi tiết trong “Trùng tu Phúc Nghiêm tự” ở chùa Cả. Bia nhắc đến tính cách và hành động của ông như sau: “Nay ở thôn Chiền xã nhà có vị quan đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu thị nội giám từ lễ giám, đồng tri giám sự Xác Lộc hầu. Ông là người họ Phùng, người thôn Chiền, được vâng mệnh hầu hạ trong cung cấm, lòng luôn nghĩ đến làm việc thiện vì mọi người đã đem tiền của ban giúp đỡ cho mọi người”, có thể thấy dù nhập cung để phụng sự, nhưng có lẽ thời niên thiếu sinh sống và thấm nhuần truyền thống Phật giáo Trúc Lâm thể hiện qua sự tình nghĩa yêu thương của người dân xứ này mà dù đã vinh hiển, ông vẫn không quên nghĩa xưa mà lòng hướng thiện phát tâm giúp dân, hộ trì chốn thiền môn. Không phải ngẫu nhiên, mà trong văn bia chép “Muốn tiếp đãi người có công đức lớn lao, tài giỏi, phải làm sao đây?” để nói về ông. Khi biết tình trạng chùa Phúc Nghiêm bị thời gian xói mòn cũng như tình trạng của Phật giáo trong dân gian với nguồn lực bị hạn chế thời Lê như văn bia miêu tả “Xưa chùa Phúc Nghiêm, xã Nội Hoàng, huyện Yên Dũng xứng là danh thắng ở trời Nam. Một danh lam nổi tiếng ở Bắc. Tuy cửa thiền được mở kiến tạo trên dưới, khang trang cho nên phải làm cho nền nhân thật vững chắc. Như thế mới mong được lâu bền và trở thành nơi cổ áng trong thế gian này. Muốn cho phong tục nơi thôn dã tránh bị phai mờ tất phải giữ nguyên nếp cũ, nhất nhất không được thay mới”. Ông đã phát tâm bỏ công sức để tu sửa ngôi cổ tự trở nên khang trang, nguy nga “Ông phát gia tài để mời thợ về sửa chữa điện thờ, hành lang, nhà chùa thêm phần quy mô, luân chuyển từ gỗ sang đá, trong ngoài phép tắc đều được lập định rõ ràng… Đến nay chùa tháp tầng tầng lớp lớp mọc thật nguy nga. Nhìn vào đó lòng ta há chẳng cung kính sao. Nhìn khung cảnh ấy thật như nơi thiền viện nguy nga lộng lẫy mà có đủ để xua tan đi bụi trần của cõi trần”. Văn bia cũng cho chúng ta thấy, trong quá trình thực hiện trùng tu ngôi cổ tự, cũng gặp phải những thử thách, “Cái công lao và cái đạo đức ấy nếu không đủ thể hiện ra ngoài thì trong lòng cũng cảm thấy không được thư thái khoan dung. Thân mình cảm thấy có lỗi lầm mà lời phát ngôn có thể truyền giáo dạy được ai đây?…”, và ý kiến của nhân dân về hành động của ông “Việc Tướng công lấy bản thân mình lo lắng tích chứa làm điều thiện ắt hẳn sẽ được hưởng điều phúc”. Dường như đã có cuộc tranh luận về việc trùng tu chùa giữa các “bậc quân tử” và chấm dứt theo văn bia mô tả “Cho nên không tranh luận nữa, bậc quân tử hãy vui với đạo mà làm điều thiện giúp người”. Sau cùng, người dân ở đây đã dốc lòng để ghi khắc công tích của ông cho hậu thế:“Cho nên liền chọn loại đá quý ghi chép thật rõ ràng để lưu truyền việc đó đến mãi mãi về sau”.

Hay văn bia chùa Sùng Quang nhắc đến công tích tu sửa chùa của Dương Nghĩa hầu Thân Thạc Vọng. Bia Trùng tu Sùng Quang tự bi 重修 崇光寺碑 ở chùa Sùng Quang hay chùa Phúc Tằng, do Tiến sĩ Nguyễn Thực soạn văn bia đặt tại chùa Sùng Quang, xã Phúc Long, tổng Phúc Tằng, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc mà nay là xã Tăng Tiến, Việt Yên, Bắc Giang. Văn bia ghi chép chi tiết quá trình xây dựng tôn tạo được ghi chép lại kỹ lưỡng là tư liệu quý khi tìm hiểu về lịch sử ngôi cổ tự này; mặt khác, người dân quanh chùa tri ơn ông mà để cho tiên tổ ông gửi giỗ ở chùa và lập sinh từ ở cạnh chùa để thờ cúng khi ông qua đời. Trong chính sử không ghi chép nhiều về Dương Nghĩa hầu Thân Thạc Vọng, nhưng tư liệu văn bia như “Lập nhạc phụ/ Miếu di hương/ Tạo bi ký” ở chùa xã Nội Hoàng, tổng Phấn Sơn, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc mà nay là xã Nội Hoàng, Yên Dũng, Bắc Giang được tạo năm Đức Long 3 cho chúng ta biết các chức vụ mà ông từng đảm nhận “ngài Thân Thạc Vọng làm quan đến Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Nội phủ giám Tổng thái giám Chưởng giám sự Dương Nghĩa hầu ở phủ Chúa Thanh Vương, sau vào làm hầu ở Nội điện Vương thất”. Thêm vào đó, văn bia này còn cho thấy rõ nhận định của người dân đối với ông “Ông là người có nhiều công lao với nước với dân”. Các tư liệu còn lại cho thấy ông là người mến mộ đạo Phật như trong “Trùng tu Sùng Quang tự bi” cho thấy việc ông chủ trì và nỗ lực thúc đẩy trùng tu lại chùa được nhân dân ghi nhận, và họ chủ động lo liệu việc hương hoả cho tiên tổ của ông được gửi giỗ ở chùa; và làm Sinh từ khi mà ông qua đời “Việc tu tạo được vẹn toàn như vậy là nhờ quan Dực vận tán trị công thần, Đặc tiến kim sử vinh lộc Đại phu, Nội phủ giám, Tổng thái giám, Chưởng giám sự, Dương Nghĩa hầu Thân Thạc Vọng chủ trì. Vì vậy, bản xã cho tiên tổ ông được gửi giỗ tại chùa. Lại lập một ngôi Sinh từ bên cạnh để cúng thờ khi ông qua đời, truyền mãi đến vạn đời”. Không chỉ vậy, ông còn đóng góp trong việc hộ trì Tam bảo, qua sự xác minh công chính việc không phải chịu lệ thuế, khi dân dùng đất Tam bảo để cúng Phật như trong bia ký ở chùa Tam Bảo đã ghi rõ “Dân sống ở giữa dòng sông cho nên không có ruộng lúa, lấy việc trồng dâu làm nghề chính. Nguyên đất bãi của Tam Bảo là để cúng Phật, sau này bị hủy đi và cấp cho mọi người, trên từ quan viên dưới đến dân làng cùng vợ con ba sào thổ trạch, chuẩn cấp cho chùa Tam Bảo, lấy ruộng đất của Tam Bảo để thờ Phật và không phải chịu thuế ngạch. […] Năm Tân Mùi nội giám Dương Nghĩa hầu cùng với các quan trong nha môn đã về bản châu sát khám thuế lệ về đời trước và đã đưa ra được bằng cứ nghĩa là vẫn dùng đất Tam Bảo để cúng Phật mà (đất ấy) không phải chịu lệ thuế”. Ngoài ra, ông còn là người giữ đạo hiếu như mô tả của văn bia ở chùa Phúc Nghiêm về việc ông cất miếu ở phía tây chùa để thờ cha mẹ vợ và cúng ruộng với sản lượng lớn để dân cày cấy lo hương hoả cho cha mẹ vợ ông ở miếu “Bản xã có chùa Phúc Nghiêm là chốn danh lam cổ tự, ông bèn lập một ngôi miếu ở phía tây chùa để thờ cha mẹ vợ Nghĩa Xuyên bá họ Dương tự Văn Minh và phu nhân Dương Thị Ngọc Yến hiệu là Chính Trực. Ông còn cúng cho xã một số ruộng sản lượng 190 gánh để dân cày cấy phụng thờ cha mẹ vợ ông ở miếu”.

Tư liệu bia chùa Phán Thú cho chúng ta biết chùa được hưng công xây dựng lại là do Thái thọ hầu Nguyễn Giáp Thái và vợ là Chánh phu nhân Trịnh Thị Thịnh phát tâm bồ đề hộ trì Tam bảo, thấy chùa cũ bị xuống cấp nên đã bỏ công bỏ của dựng lại chùa khang trang hơn, theo bia gỗ thứ nhất ghi lại “Trưởng quan thị Hữu trung cung phụng sai phụ tá thủ hiệu Tả uy cơ, Phó cai cơ, tri Thị nội thư tả, Hữu đô đốc, Thái thọ hầu Nguyễn Giáp Thái và vợ là chánh phu nhân Trịnh Thị Thịnh, đã phát tâm bồ đề, tự bỏ tiền, thóc, gỗ hưng công xây cất tam bảo, gồm thượng điện, tiền đường, hết thảy đều làm mới”. Về Thái thọ hầu Nguyễn Giáp Thái, tư liệu văn bia ở đình Ngò dựng năm Hoàng triều Cảnh Hưng thứ 35 (1775) cung cấp các chức vụ mà ông từng giữ “… Bản xã có Tổng Thái giám, Cai kỳ quan, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Thần vũ tứ vệ quân vụ sự, Tham đốc Bắc quân, Thái bảo chí sĩ, Thái thọ hầu Nguyễn Giáp Thái, vợ là chánh phu nhân Trịnh Thị Thịnh”. Từ văn bia, chúng ta biết được ông được trọng dụng trong triều đình, nhưng vẫn khoan dung với nhân dân “Ông đã được theo hầu ở trong các dinh phủ lớn từ  lâu, là bề tôi được tin dùng. Phụng sự các quan trên hết lòng cung kính, tỏ lòng trung thành với bề trên, với thần tiên, với những người thân của mình. Lấy hiếu để cai trị quân, lấy lòng khoan dung để sai khiến dân. Lòng từ bi độ lượng của ông khiến mọi người trong thiên hạ đều nghe thấy, nhìn thấy và được lưu truyền ở bia đá mãi mãi về sau không bị mất đi…”. Từ thông tin văn bia này, có thể thấy được sự ảnh hưởng của Phật giáo Đại Thừa thông qua khái niệm Bồ Đề Tâm (Bodhicitta), đây là khái niệm quan trọng trên giai trình hướng đến sự giác ngộ của một vị Bồ tát. Dấu ấn của tư tưởng Phật giáo Đại thừa với nội quan cũng được tìm thấy ở bia ký chùa Vân La qua việc một tín chủ là Trà Lân hầu Trần Văn Lương được tôn phong với danh hiệu Bồ tát “Chánh Vương phủ thị nội giám Tham tri giám sự quý quan Trà lân hầu Trần Văn Lương tôn phong là Nam mô Phổ huệ Bồ tát”, văn bia chùa Vân La cũng là văn bia có đề cập đến danh hiệu nước Việt Nam “…Việt Nam chi quý/ Kinh Bắc thừa tuyên/Từ An Tiên hảo…”, người soạn văn bia là Tiến sĩ Dương Cảo; là người đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) ở khoa thi Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ 10 vào đời vua Lê Thần Tông (1628). Người viết chữ cho văn bia là Trụ trì chùa Vân La Huyền Thông đại sư, tên thật là Nguyễn Văn Chủ. Danh hiệu Phổ Huệ Bồ tát, là danh hiệu xuất hiện trong phẩm Ly thế gian thuộc kinh Hoa Nghiêm. Đây là một hiện tượng rất đặc biệt, có thể chỉ xuất hiện ở Việt Nam khi một hoạn quan được tôn phong lên hàng Bồ tát nhờ vào công đức cúng dường cho Phật giáo.

Có thể thấy, việc bố thí cúng dường cho người dân và chùa được các thái giám thực hành một cách thuận thành. Việc cúng ruộng cho chùa để duy trì hương khói không phải là hiếm, ruộng này sẽ được gọi là “ruộng đèn hương” hay “ruộng hương hoả” như trong nội dung văn bia “Lưu tư điền cúng tam bảo bi” tại chùa Nga Trại ghi lại việc Thừa chế giám sự Nghiêm Vũ hầu Nguyễn Hữu Lễ cúng cho “thôn 5 nén bạc và 3 thửa ruộng tốt sản lượng 100 gánh, giúp cho chùa Nga Trại chi dùng vào việc công” và sau đó là “Ông lại tiến cúng thêm một số ruộng khác sản lượng 25 gánh, làm ruộng đèn hương ở chùa”, nên người dân xã nhớ ở nên đặt lệ phụng sự ông cùng ông bà, cha mẹ ông. Văn bia chùa Diên Quang là “Tu tạo tiền đường Diên Quang tự bi” nhắc đến chuyện Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Đô Thái giám Tham tri cung môn thừa chế sự Trình Xuyên hầu Ngô Văn Khuê cùng vợ là Phạm Thị Ngọc Trúc phát tâm cùng người dân đứng ra tôn tạo chùa, xây dựng đài hương và tô tượng Phật, thời gian được dựng là giai đoạn Vĩnh Thịnh thời Lê (1075-1715), hương đá còn ghi chép “Nhất đạo sỹ hưng công thiên đài Phán Thú tự phụng phật”.

Có thể thấy, dù mang thân phận thái giám nhưng lòng vẫn nặng chữ hiếu với phụ mẫu gia tộc, nên vì thế mà phát tâm hướng thiện giúp dân. Việc các thái giám giúp dân là không hiếm, theo văn bia “Phúc Nham tự tam bảo thị bi” ở chùa Phúc Nham ghi lại việc nha lại ức hiếp dân lành, thu thuế khiến dân không gánh nổi, sau lại nhờ đến Ninh Quận công Thân tướng công tâu với nhà Chúa mà được lệnh miễn thuế cho dân, về sau chùa có việc thì ông cũng đóng góp để xây dựng. Theo đó, chợ Phúc Nham ở cạnh chùa Phúc Nham thuộc huyện Yên Dũng; thuộc sở hữu của nhà chùa. Ngoài ruộng Tam Bảo thì chợ Tam Bảo cũng là một phần thuộc về chùa như trong Phúc Nham tự tam bảo thị bi ở Tân Mỹ, Bắc Giang ghi rõ “Chợ Phúc Nham, huyện Yên Dũng ở cạnh chùa Phúc Nham, thuộc sở hữu của nhà chùa”. Chợ Tam Bảo hay Tam Bảo Thị, thường được dân gian gọi là chợ chùa, phát triển mạnh giai đoạn Lê Trung Hưng cùng với việc chùa chiền được xây dựng, sửa chữa. Đây là hình thức văn hoá đặc thù tồn tại ở Đàng Ngoài thời Lê Trung Hưng trong lịch sử Việt Nam. Lý giải cho tên gọi chợ Tam Bảo, được ghi rõ trong nội dung “Hoa Lâm Tam Bảo thị bi”, hình thức hội họp sinh hoạt dân gian này được gọi là chợ chùa vì chợ họp cạnh các sân bãi gần chùa, thu nhập từ chợ được giao cho chùa quản lý chứ không nộp lên triều đình cùng với đó là đất đai xây dựng có sẵn và được người khác cúng thêm cho chợ thuộc sở hữu của chùa. Chợ chùa giúp cho người dân địa phương họp chợ thuận lợi, không bị quan lại gây khó dễ và o ép về thuế; từ đó tạo ra nguồn thu nhập để dân chúng cúng dường và xây dựng tu bổ cho ngôi chùa, không gian sinh hoạt văn hoá tâm linh của cộng đồng dân cư làng xã. Chính vì thế, giai đoạn này nhiều làng mong muốn có chợ chùa hoặc biến chợ làng thành chợ chùa, nhưng để được thực hiện thì các làng phải viết đơn lên chúa Trịnh, trong quá trình này cần nhờ người có quyền thế nói giúp để được chuẩn y. Từ đây, vai trò trung gian nối giữa dân và chúa Trịnh của các thái giám có phần rất quan trọng, bởi nếu thái độ của người trung gian không ủng hộ thì việc xây dựng chợ chùa, hay chợ chùa bị quan lại địa phương sách nhiễu sẽ bị trì hoãn rất lâu không giải quyết. Và tình trạng quan lại địa phương gây khó dễ, lạm thu thuế đã diễn ra không phải là hiếm, như trong “Phúc Nham tự tam bảo thị bi” mô tả: “Trước đây bị nha lại ức hiếp thu thuế, gần đây nhờ quan Dực vận tán trị công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Nội phủ giám, Đô Thái giám, Chưởng giám, Đô đốc Ninh Quận công Thân tướng công, tâu lên nhà Chúa, xin lệnh chỉ miễn cho”. Ở vai trò trung gian của các thái giám, có thể thấy được sự ủng hộ của họ hướng về nhân dân và nhiệt tình hộ trì Phật pháp. Từ đó, thúc đẩy các chùa tiếp tục đóng vai trò trung tâm trong văn hoá làng xã, thông qua các phiên chợ định kì mà người dân đến cúng dường Tam Bảo. Có thể thấy, đây là phương thức khéo léo để duy trì và phát triển nguồn mạch Phật pháp ở giai đoạn lui về trong dân gian. Cũng theo tư liệu văn bia, chúng ta biết được chức vụ mà Ninh quận công đảm nhận “Dực vận tán trị công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Nội phủ giám, Đô Thái giám, Chưởng giám, Đô đốc Ninh Quận công Thân tướng công”, và sự nhiệt tâm của ông với Phật pháp “Nay chùa có việc sửa chữa, ông lại cúng 250 quan tiền sử, một số người giàu sang trong xã cũng đóng góp tiền để chi phí. Vậy dựng bia kỷ niệm, ghi công những người đóng góp tiền của”.

Việc các vị nội quan giúp chùa giúp dân rồi được đặt bia ký không hiếm, nhưng ngoài ra còn có trường hợp được tạc tượng để thờ phụng trong chùa như tượng Phương quận công Ngọ Công Quế ở chùa Chèo1 hay Thánh Lộ Tự, công tích của ông được “Trùng tu tự bi” ở chùa ghi chép cụ thể như “xuất ruộng sản lượng 50 gánh, dùng làm ruộng tam bảo, xuất 250 mân sử tiền mua 6 cây gỗ lim làm gác trống, lầu chuông”. Ngọ Công Quế là một bậc văn võ song toàn, sinh ra ở xã Quế Trạo (nay là xã Thái Sơn, huyện Hiệp Hòa). Cha ông là Phúc an hầu Ngọ Công Tuấn giữ chức Thái Nguyên xứ tham tán và được huân phong: Tướng công hiển cung đại phu, tham đốc thái vũ, tử vệ quân sự vụ, và ông nội là Thái sơn hầu Ngọ Công Văn được phong tặng: Vũ liệt tướng quân, tham đốc thần vũ, tử vệ quân sự vụ. Họ đều là những quan tướng có uy tín trong triều đình. Ông được huân phong: Đặc tiến kim tử, vinh lộc đại phu, giữ chức Phó tả thị nội thư, tả binh phiên, tư lễ giám, Đô thái giám và được phong tước Lộc hầu vào thời gian niên hiệu Chính Hòa thứ 18 năm Đinh Sửu (1697) triều đại Lê Hy Tông. Sau đó, ông làm quan trấn thủ Thái Nguyên xứ, đồng giữ chức tư lễ giám, Bắc quân đô đốc phủ, được huân phong: Đặc tiến phụ quốc, Thượng tướng quân, tả đô đốc, tước Phương quận công năm Quý Tỵ (1713). Về sau, ở Lăng của ông có sắc phong của vua Lê cho ông là “Linh ứng cương nghị minh đạt đức hậu chính thần”. Nắm giữ nhiều vị trí quan trọng, nhưng ông vẫn là người có lòng vì nhân dân, ông có nhiều đóng góp cho việc dẹp loạn và an dân, những công lao đó đã được triều đình ban thưởng rất hậu. Sau đó, ông đã dùng bổng lộc ấy để xây dựng những công trình cộng đồng như đình chùa và cầu cống như Đình Chèo và Chùa Chèo, chính vì thế, nhân dân đã hết lòng sùng kính, sau đó tôn ông làm hậu thần thờ phối hưởng cùng Thành hoàng ở đình làng.

Việc dựng tượng để thờ ở đình làng hay ở chùa, thường là những vị có công tích lớn với dân, như Lập Quận công Giáp Đăng Luân cũng được dân của ba thôn là “Ngọc Trì, Đông La, Tiền Đình xã Chuế Dương, huyện Yên Dũng” dựng sinh từ để thờ “Lập Nghĩa hầu Giáp Đăng Luân, đã cấp cho bản xã 10 mẫu ruộng, 100 lượng bạc dòng, 500 quan tiền sử, để bản xã chọn ngày giờ tốt, dựng một ngôi sinh từ để sau này phụng thờ” như trong mô tả của văn bia “Đức hinh sơn ngưỡng từ bi ký” tạo năm Bảo Thái thứ 5 (1724). Cho đến khi ông qua đời, thì người dân ghi nhớ công đức của ông đã dựng tượng ở chùa để thờ bởi lẽ “Ông là người trung với vua, kính chúa, yêu mến dân, thường giúp đỡ kẻ nghèo khó”, với những hành động thiết thực gần dân “Vì thế dân xã Chuế Dương, huyện Yên Dũng rất kính trọng ông, tôn ông làm hậu Thần”. Sinh thời, ông thường hướng tâm mến mộ Phật pháp, và có những hành động để hộ trì Tam bảo “ông cúng cho xã 5 mẫu 5 sào 8 thước 6 tấc ruộng để phụng Phật, do đó, quan viên, hương lão và toàn dân xã lại tôn ông làm hậu Phật. Khi ông mất, dân tiếc thương, dựng tượng ở chùa để thờ”, trong văn bia “Hậu phật bi ký” ghi chép rõ về hành trạng của ông. Cũng qua tư liệu văn bia, cho chúng ta biết sinh thời Lập Quận công Giáp Đăng Luân giữ các chức vụ quan trọng và quá trình thăng tiến của ông như “Thị hữu trung cung, kiêm Tri thị nội Thư tả Hộ phiên, Thị hữu thủy hiệu Thị hầu Thị tuyển đội tuyển, Thị cận, Ti lễ giám Đồng tri giám sự, Lập Nghĩa hầu Giáp Đăng Luân”, cho đến “Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thị Nam cung, Phó thủ hiệu Tiền tượng cơ, Phó cai quan, Tri thị nội Thư tả Binh phiên, Thị cận, Thị nội giám, Ty lễ giám, Tổng Thái giám, Đô chỉ huy sứ, phong tặng Tham đốc Thượng trụ quốc Lập Quận công Giáp tướng công, thụy Cẩn Đạt phủ quân”. Theo tư liệu gia phả “Giáp thị gia phả chính biên” được biên soạn năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) tìm thấy ở làng Um, xã Việt Lập cho biết về tổ tiên họ Giáp “người Cổ Bi (Gia Lâm), khoảng cuối đời Hồ trở về trước, một chi từ Cổ Bi dời về Dĩnh Kế. Cuối đời Hồ cụ Thuận Trung tự Phúc Chính, lánh nạn về xã Thiết Nham huyện Yên Dung. Đến đời Mạc, Giáp Hải là anh, đỗ Trạng nguyên ra làm quan, rồi về hưu tại Dĩnh Kế. Giáp Hà là em di cư đến xã Bảo Lộc Sơn (nay xã Việt Lập, huyện Tân Yên)”. Hiện nay, di sản mà Lập Quận công Giáp Đăng Luân để lại chính là lăng Phục Chân Đường; nơi yên nghỉ của ông, được xây dựng với kiến trúc độc đáo và vẫn được người dân gìn giữ nhang khói không ngớt. Từ đầm nước phía trước lăng, nhìn ra xa là đối diện với chùa Kim Tràng hay “Chân linh ứng tự”. Đây là một ngôi chùa mà theo người dân là do một vị thiền sư tu ở chùa Vĩnh Nghiêm, thuộc phái Trúc Lâm Yên Tử đi qua và dựng nên. Chưa tìm thấy tư liệu ghi chép về mối liên hệ giữa Lập Quận công Giáp Đăng Luân và Thiền phái Trúc Lâm, nhưng rõ ràng từ việc ông mến mộ Phật pháp, chúng ta có thể giả thuyết về việc có sự ảnh hưởng của Phật giáo Trúc Lâm đến ông trong bối cảnh đương thời.

Thứ hai, việc các văn bia tập trung ở Bắc Giang chính bởi nơi đây có Trung tâm Phật giáo Trúc Lâm; với sự ảnh hưởng trong đời sống nhân dân nên cũng qua đó ảnh hưởng và tác động lớn đến các nội quan có xuất thân ở đây. Bắc Giang là một trong bốn trung tâm quan trọng của Phật giáo Trúc Lâm, cụ thể là: Yên Tử, Quỳnh Lâm, Vĩnh Nghiêm, Thanh Mai. Tại Bắc Giang, Vĩnh Nghiêm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng, từ việc Tam Tổ của Thiền phái Trúc Lâm đều từng có thời gian ở đây, cho đến là nơi đóng vai trò đào luyện cho Tăng ni của quốc gia trong thời gian dài. Sự ôn hoà và tôn trọng với nội quan của Phật giáo Trúc Lâm được thể hiện qua sự kiện Trúc Lâm Đại Sĩ Trần Nhân Tông hoà giải mâu thuẫn giữa nội quan và Nho thần, hay sử dụng nội quan đúng khả năng không phân biệt đã được nêu ở trên đã cho thấy sự ảnh hưởng nhất định của Thiền phái Trúc Lâm đến nội quan. Chính vì thế, các nội quan sau này vẫn nhớ về sự đối xử bình đẳng của Thiền phái Trúc Lâm ngày trước mà hướng về đóng góp để duy trì nguồn mạch của Phật giáo Trúc Lâm.

Có thể thấy, các nội quan là các đại công đức trong việc trùng tu các chùa, văn bia “Trùng tu Nguyệt Đường” ở Hưng Yên chép lại, “Đại công đức Thường Tín phủ Thanh Trì huyện Vân La xã Thị hầu kiên nghĩa Ưu tiền trung hữu trung hậu đẳng thuyền, tịnh Nội giáp trần phó cai quan Đông cung tri Thị nội Thư tả lễ phiên thị nội Giám tư lễ giám Tổng thái giám Thự vệ sự Vân Quận công Đỗ Bá Phẩm cùng vợ Quận phu nhân Lê Thị Sâm” đây là ngôi chùa mà trong Hương Hải thiền sư ngữ lục của Hương Hải thiền sư có ghi lại “Năm Canh Thìn 1700 sư sang ở chùa Nguyệt Đường, có hơn 70 đệ tử theo học, tất cả đều tinh thông kinh luật. Sư cho trùng tu chùa Nguyệt Đường rộng lớn trang nghiêm. Chính ở chùa Nguyệt Đường sư đã giáo hóa và làm phục hưng thiền phái Trúc Lâm”. Vân Quận công Đỗ Bá Phẩm là người làng Vân La thuộc Tổng Vân, xã Vân La, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín mà nay là thôn Vân La, xã Hồng Vân – Thường Tín – Hà Nội, nhân dân trong vùng gọi ông là Quận Vân. Ông từng giữ chức Tổng trấn Sơn Nam; vùng trọng yếu cửa ngõ phía nam kinh thành Thăng Long vào giai đoạn triều vua Lê Trung Hưng – Chúa Trịnh Cương năm 1710 – 1725. Năm 1725, ông về phủ chúa Trịnh, và được chúa Trịnh Cương tín nhiệm giao trọng trách dạy dỗ Thế tử Trịnh Giang. Theo thông tin ở đình làng Vân La, Vân Quận công Đỗ Bá Phẩm trong quá trình dạy dỗ đã nhận thấy Trịnh Giang không phải là người đủ phẩm chất để kế thừa đạo thống phủ chúa, nên đã trình với chúa Trịnh Cương không tiến cử học trò mình và vị trí kế vị ngôi chúa. Tuy nhiên, khi chúa Trịnh Cương qua đời đột ngột năm 1932, Trịnh Giang tiến hành đoạt ngôi, và bắt đầu hạ chức nhiều quan đại thần trong triều, mà trong đó có Vân Quận công Đỗ Bá Phẩm. Theo Đại Việt sử ký tục biên chép lại: “Truất Nội giám Vân quận công Đỗ Bá Phẩm ra làm Tuần thủ xứ An Quảng. Tiếp đó lại cách chức, bắt phải chết”. Di sản của Quận công Đỗ Bá Phẩm để lại cho hậu thế hiện tại là quần thể di tích lăng với kiến trúc độc đáo; đã được xếp hạng Di tích Kiến trúc – Nghệ thuật cấp Quốc gia.

Hay ở chùa Đống Nghiêm là sơn môn của Thiền phái Trúc Lâm ở Bắc Giang, hay là chi phái của chùa Vĩnh Nghiêm (Đức La), cũng là nơi nghỉ ngơi của chư tăng trước khi về Vĩnh Nghiêm kết hạ. Về sau, chùa Đống Nghiêm trong cuộc kháng chiến chống quân Minh bị tàn phá, về sau vào giai đoạn thế kỷ XVII – XVIII dần được trùng tu sửa chữa. Văn bia là “Đống Nghiêm tự bi ký” cũng ghi lại công tích của Quận công Nguyễn Đức Dung đứng ra lập chợ Tam Bảo gần chùa. Sau lại có Tham nghị Nguyễn Minh Phái cùng vợ Nguyễn Thị Chuyên phát tâm bồ đề đúc chuông sửa chùa. Ngoài ra, thông qua tư liệu văn bia về thái giám còn giúp chúng ta có thêm nhiều chi tiết về thiền phái Trúc Lâm, như văn bia “Phụng lệnh dụ cung cấp Tam bảo tạo lệ bi ký” dựng năm Thịnh Đức nguyên niên (1653) ghi về việc Thanh Vương Trịnh Tráng hạ lệnh cho xã Chi Ngãi, huyện Phượng Nhãn, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc cung cấp nhân công thờ phụng Tam bảo cho chùa Tư Phúc ở Côn Sơn. Sách Đại Nam Nhất thống chí1 chép về chùa Côn Sơn như sau: “Nguyễn Trãi nhà Lê về già cũng ở đây, dưới núi có ao gọi là giếng Mắt Rồng, nước khe chảy quanh trước sau, có cầu Thấu Ngọc và am Bạch Vân, trên đỉnh núi có chùa Tư Phúc. Hòa thượng Pháp Loa dựng các am Hồ Thiên, Chân Lạc để ở. Vua Trần Thái Tông từng đến chơi. Tương truyền, Hòa thượng Huyền Quang cũng tu ở đấy. Phong tục ở đấy cứ đầu mùa xuân trai gái đến chùa dâng hương, hàng tuần mới tan, là thắng hội của một phương. Đời Trần Minh Tông, trạng nguyên Lý Đạo Tái biệt hiệu Ứng Quang, cáo quan về ở ẩn tại đây. Lê Thái Tông cũng từng đến chơi có thơ đề vịnh”. Trong phần ghi công đức của văn bia nêu ra việc Ninh Quận công Thân tướng công phát tâm bồ đề dốc lòng tu sửa các cảnh quan của chùa Tư Phúc như Thượng điện, Tiền đường, đài Cữu phẩm liên hoa, nhà Thiêu hương: “Đề đốc Ninh Quận công Thân tướng công có lòng tích đức phát tâm bồ đề, cung phát tiền của thóc gạo, đinh sắt, gỗ lim cùng các đồ gốm sứ chẳng tiếc gia tài đem lòng tu tạo cúng dàng”, […] “Dựng khởi lại thượng điện, gác chuông, cửu phẩm liên hoa, thiêu hương, tiền đường, hậu đường, tả hữu hành lang và tam quan. Trụ trì nối tiếp duyên Phật sa môn Đỗ Công Triều, tự Huyền Chân Thiền Sư, thôn Trung, xã Hạ Dương, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn. Lê triều hoàng đế vạn vạn niên, tiết giữa Đông năm Quý Tỵ”. Có thể thấy, từ việc Trúc Lâm Đại sĩ Trần Nhân Tông đối xử khoan dung cho đến tinh thần cởi mở của Thiền phái Trúc Lâm với nội quan đã xây dựng một niềm tin sâu dày không chỉ với những giai tầng khác nhau trong lòng người dân Việt, cũng như ở mảnh đất Bắc Giang giàu truyền thống nhân bản, từ đó ảnh hưởng kéo dài về sau đến các nội quan. Nên họ dù vào triều làm quan, nhưng gốc gác tư tưởng vẫn chịu sự ảnh hưởng của tinh thần Phật giáo Trúc Lâm. Nên vì thế, không chỉ góp phần hộ trì Tam bảo ở mảnh đất Bắc Giang, mà ở đâu có dấu tích của Phật giáo Trúc Lâm thì khi có cơ hội, các nội quan đều dốc lòng phát tâm tu sửa các ngôi cổ tự và phát tâm hộ trì Phật pháp.

5. KẾT LUẬN

Như đã phân tích ở trên, xin nhấn mạnh điểm chính yếu mà nghiên cứu này muốn trình bày, là chính trong các vương triều phong kiến sùng Phật giáo mà các nhân tài hoạn quan được bộc lộ và có điều kiện được cống hiến cho xã hội. Điển hình, như thời Lý, đã sản sinh ra Lý Nhân Nghĩa, Lý Thường Kiệt; thời Trần, đã sản sinh ra Phạm Ứng Mộng; đầu thời Lê (khi ảnh hưởng Phật giáo thời Trần vẫn còn), đã sản sinh ra Lương Đăng; thời chúa Trịnh, chúa Nguyễn, với sự sùng Phật giáo đã sản sinh ra Hoàng Ngũ Phúc, Tả Chí Hầu, Tuyền Tiên, Hoàng Công Tiến, Dương Hữu Ân, Dương Công Tạo, Hoàng Công Phú, Hoàng Đạo Hiền, Đỗ Nguyễn Thụy…; đầu thời Nguyễn (khi ảnh hưởng Phật giáo thời chúa Nguyễn còn tồn dư), nên mới xuất hiện được Tả quân Lê Văn Duyệt. Còn các thời kỳ khác của lịch sử Việt Nam, với sự thống trị của Nho giáo, đều không thấy xuất hiện các nhân tài hoạn quan có cống hiến trong chính trường lẫn văn hoá dân tộc, đó hẳn là một thiệt thòi to lớn cho dân tộc. Sau thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo ở vương triều Lý – Trần, các nội quan có tài tập trung hướng về Bắc Giang, như các trường hợp Tri thị nội thư, Tả lại phiên, Thị nội giám, Tư lễ giám, kiêm Thái giám, Xác Lộc hầu Phùng Đức Nhuận; Dực vận Tán trị công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Nội phủ giám Tổng thái giám Chưởng giám sự Dương Nghĩa hầu Thân Thạc Vọng; Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Đô Thái giám Tham tri cung môn thừa chế sự Trình Xuyên hầu Ngô Văn Khuê; Tổng Thái giám, Cai kỳ quan, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Thần vũ tứ vệ quân vụ sự, Tham đốc Bắc quân, Thái bảo chí sĩ, Thái thọ hầu Nguyễn Giáp Thái; Thừa chế giám sự Nghiêm Vũ hầu Nguyễn Hữu Lễ; Dực vận tán trị công thần, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Nội phủ giám, Đô Thái giám, Chưởng giám, Đô đốc Ninh Quận công Thân tướng công; Đặc tiến phụ quốc, Thượng tướng quân, tả đô đốc, Phương quận công Ngọ Công Quế; Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thị Nam cung, Phó thủ hiệu Tiền tượng cơ, Phó cai quan, Tri thị nội Thư tả Binh phiên, Thị cận, Thị nội giám, Ty lễ giám, Tổng Thái giám, Đô chỉ huy sứ, phong tặng Tham đốc Thượng trụ quốc Lập Quận công Giáp Đăng Luân; Đông cung tri Thị nội Thư tả lễ phiên thị nội Giám tư lễ giám Tổng thái giám Thự vệ sự Vân Quận công Đỗ Bá Phẩm; Thái giám Quận công Nguyễn Đức Dung; thái giám Tham nghị Nguyễn Minh Phái; là bởi đây là trung tâm Phật giáo cuối cùng còn được biết đến với tầng lớp thống trị vốn đã hoàn toàn thuộc về Nho giáo, với niềm mong ước không chỉ nương tựa về mà còn để hồi tưởng về quá khứ huy hoàng của nội quan, nơi mà nội quan được cống hiến và được ghi nhận bởi tầng lớp thống trị, chỉ diễn ra dưới quan điểm rất nhân văn của Phật giáo.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Anh

  1. Aisin-Gioro Pu Yi, From Emperor to Citizen, Foreign Languages Press, Beijing 1965.
  2. Alev L. Croutier, Harem, The World Behind the Veil, Abbeville Press, New York,1989.
  3. Allan R. Bomhard, The Two Meanings of the Pāḷi Term paṇḍaka, Florence, SC, 2021.
  4. Barbara Walker, The Woman’s Encyclopedia of Myths and Secrets, Published by HarperOne, 1983.
  5. Edda Bresciani, Chapter 8: Foreigners, The Egyptians, University of Chicago Press, 1997.
  6. George M. Gould và Pyle. Anomalies and Curiosities of Medicine, The Julian Press Inc, New York, 1896.
    1. H.W.F Saggs, The Greatest That was Babylon, New York: Hawthorn, 1962.
    2. Kathryn Ringrose, The Perfect Servant: Eunuchs and the Social Construction ofGender in Byzantium, University of Chicago, 2003.
    3. Laura Engelstein, Castration and the heavenly kingdom: a Russian folktale, CornellUniversity Press, 1999.
    4. Taylor, Keith W, The Literati Revival in Seventeenth–century Vietnam. JSEAS 18 (1), 1987.
    5. The Laws of Manu, George Bühler, translator, Sacred Books of the East, Volume 25,sacred-texts.com, truy cập ngày 30.4.2022.
    6. Kazuya Maekawa, Animal and human castration in Sumer, Part II: Humancastration in the Ur III period, Journal of the Research Institute for HumanisticStudies, Kyoto University, 1980.
    7. Judy Pearsall (Chief editor), The New Oxford Dictionary of English: “Eunuch”,Oxford: Clarendon Press, 1998.
    8. Christine Hsu, “Eunuch Study Reveals That Castration May Add 20 Years to aMan’s Life”, Medicaldaily.com, 2012. Truy cập 17.2.2023.
    9. Kathryn Ringrose, The Perfect Servant: Eunuchs and the Social Construction ofGender in Byzantium, University of Chicago, 2003.
    10. Trevor Bryce, The World of the Neo-Hittite Kingdoms: A political and militaryhistory, NY: Oxford University Press, 2012.
    11. Lucinda Dirven, The Palmyrenes of Dura-Europos: A Study of Religious Interactionin Roman Syria, Brill, 1999.
    12. Lynn Roller, In search of god the mother: castration, University of California Press, 1999.
    13. Marvin W. Meyer, The ancient mysteries: a sourcebook – sacred texts of the mysteryreligions of the ancient Mediterranean world, University of Pennsylvania Press, 1999.
    14. George M. Gould; Pyle, Anomalies and Curiosities of Medicine,The Julian PressInc, New York, 1896.
    15. Trevor Bryce, The World of the Neo-Hittite Kingdoms: A political and militaryhistory, NY: Oxford University Press, 2012.
    16. Rabbi Elliot Kukla, Terms for Gender Diversity in Classical Jewish Texts, TransTorah.org, 2006. Truy cập 18.2.2023.
    17. Lee Mosol, Ancient History of the Manchuria, Xlibris Corporation, 2013.
    18. Peter Harvey, “An Introduction to Buddhist Ethics:Foundations, Values and Issues”,Cambridge University Press, 2000.
    19. Theravāda Collection on Monastic Law, Methunadhamma, The chapter on Verañjā,

    Bhikkhu Brahmali, suttacentral.net.

    26. Taishō Tripiṭaka, Dharmaguptaka Vinaya (四分律), nidāna (序). suttacentral.net.

    Tiếng Việt

    1. An Nam Truyện, Châu Hải Đường soạn dịch, NXB. Hội Nhà văn, 2021.
    2. Đại Việt sử kí tục biên, Nguyễn Kim Hưng dịch, NXB. Khoa học xã hội, 1991.
    3. Ðịch Văn Minh, Trung Quốc toàn sử, NXB. Văn Minh nhật báo xã, Bắc Kinh, 2002.
    4. Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt -Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, NXB. Khoa học Xã hội, 2018.
    5. Khuyết danh, Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nhà Xuất bản Thuận Hóa và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2005.
    6. Lê Nguyễn, Xã hội Việt Nam thời Lê – Nguyễn, NXB. Hồng Đức, 2021.
    7. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên soạn thảo, Đại Việt sử ký toàn thư, ViệnKhoa học Xã hội Việt Nam dịch, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.
    8. Lý Tế Xuyên, Việt Điện U Linh, Trịnh Đình Rư dịch; Đinh Gia Khánh hiệu đính, NXB. Hồng Bàng, 2012.
    9. Nguyễn Hữu Tâm, Bia chùa Tam Bảo, Thông báo Hán Nôm học, 1996.
    10. Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Hoạn quan trong Sử Việt, Lối xưa xe ngựa, Trung tâmNghiên cứu Quốc học, NXB. Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2001.
    11. Phạm Thị Hương Lan, Bia trùng tu chùa Nguyệt Đường, Thông báo Hán Nôm học, 2006.
    12. Phạm Thị Vinh, Về một số bia tượng hậu thế kỷ XVII-XVIII, Thông báo Hán Nôm học, 1996.
    13. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nhân vật chí, NXB. Sử học, Hà Nội, 1960.
    14. Phật Quang Đại từ điển, quyển 2, Thích Quảng Độ dịch, Paris, 2012.
    15. Quốc sử quán triều Nguyễn soạn thảo, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục,Chính biên, Quyển thứ 38, Viện Sử học dịch, NXB. Giáo dục, Hà Nội,1998.
    16. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, NXB. Thuận Hóa, Huế, 1994.
    17. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục chính biên, Viện Sử học dịch, NXB. Giáo dục, 2001.
    18. Quốc Sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu, phần Chính biên, NXB. Văn học, 2002.
  1. Quốc triều hình luật, Viện Sử học Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia Sự thật, 2017.
  2. Samuel Baron, Mô tả Vương quốc Đàng Ngoài, Hoàng Anh Tuấn dịch, NXB. Khoa học xã hội, 2019.
  3. Tạ Chí Đại Trường, “Sex và triều đại”, Văn họ,c số 195, 2002.
  4. Tạ Chí Đại Trường, Hoạn Quan: “Tôi Đòi và Quyền Lực”, Nghiên cứu Lịch sử, 2016.
  5. Takashi Hasuda, Vài nét về Vai trò của Hoạn quan trong Ngoại thương thế kỷ XVII, Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ III, 2008.
  6. Thích Minh Nghiêm, Văn bia ở sinh từ quan Thái giám họ Nguyễn ở xã Dương Cốc huyện Quốc Oai, Thông báo Hán Nôm học, 2010.
  7. Thiền uyển tập anh, Ngô Đức Thọ và Nguyễn Thúy Nga dịch và chú thích, Phân viện Nghiên cứu Phật học, NXB. Văn học, Hà Nội, 1990.
  8. Trần Thị Thanh, Bài văn bia “Sắc tứ từ hiếu tự mộ địa bi ký”, Đại học Khoa học Huế, Thông báo Hán Nôm học 2005.
  9. Trịnh Khắc Mạnh, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, Tổng tập thác bản văn khắc Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, 2005-2009.
  10. Luật Tứ Phần (Tập 1~4), Chương I: Thọ Giới, Phương Đông, Hán dịch: Tam Tạng Phật-Đà Da-Xá Và Trúc-Phật-Niệm, Việt dịch: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh, TP. Hồ Chí Minh, 2013.
  11. LuậtMaHaTăngKỳ-Tập3,CácGiàNạn,Hándịch:PhậtĐàBạtĐàLa-SaMôn Pháp Hiển, việt dịch: Thích Phước Sơn, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, 2011.
  12. Đại Tập 153, Bộ Luận Sớ VIII, Số 1828 (Quyển 6-15), Du-Già Luận Ký – Quyển 9 (Phần Đầu), Sa Môn Thích Tịnh Hạnh dịch, Hội Văn hoá Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc, 2000.
  13. Kinh Bi Hoa, Quyển X, Phẩm Thứ Năm: Phần III, Pháp Bố Thí, Dịch và chú giải : Nguyễn Minh Tiến, NXB. Hà Nội, 2011.
  14. Đại Tập 113, Bộ Luận III: Bồ Đề Tâm Quán Thích, Sa Môn Thích Tịnh Hạnh dịch, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan, 2000.
  15. Đại Tập 10, Bộ Bản Duyên I (Số 152 – 157), Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân – Quyển VI, Sa Môn Thích Tịnh Hạnh dịch, Hội Văn hóa Giáo dục Linh Sơn Đài Bắc – Taiwan, 2000.
  16. Đức Hùng, Đền Mẫu, Báo Hưng Yên, 2016. baohungyen.vn, truy cập 25.2.2023.
  17. Thích Hải Ấn, Hà Xuân Liêm, Lịch sử Phật giáo xứ Huế, NXB. Văn Hóa, 2006.
  18. Thích Hạnh Thành biên soạn, Biên niên sử Thiền tông Việt Nam, NXB. Hồng Đức, 2016.
  19. Thích Đồng Bổn chủ biên, Tiểu Sử Danh Tăng Việt Nam Thế kỷ XX, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, 2002.

606 KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC GIA: KHÔNG GIAN VĂN HÓA PHẬT GIÁO BẮC GIANG

  1. Nguyễn Văn Phong, Văn bia Bắc Giang – Khảo cứu và tuyển dịch, NXB. Đại Học Quốcgia Hà Nội, 2021.
  2. Dương Văn Hoàn, Đôi nét về Vương tôn Cơ Quận công Trịnh Lãng, Thông báo Hán Nôm học, 2011.
  3. Phạm Thị Vinh, Về một số bia tượng hậu thế kỷ XVII-XVIII, Thông báo Hán Nôm học, 1996.
  4. Quang Huy, Chùa Chèo, svhttdl.bacgiang.gov.vn, 2011. Truy cập ngày 25.2.2023.
  5. Phạm Văn Tuấn, “Chợ Tam Bảo – một nét đẹp làng xã Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, số tháng 3/2019.
.
.
.
.