TIỂU SỬ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG
SƠ TỔ THIỀN PHÁI TRÚC LÂM VIỆT NAM (1258 – 1308)
Phật hoàng Trần Nhân Tông tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258). Ông là đích trưởng tử của vua Trần Thánh Tông và Hoàng hậu Nguyên Thánh. Lúc vua sinh ra, thân sắc như vàng ròng nên được Thánh Tông đặt tên là Kim Phật.
Năm 16 tuổi, khi được lập làm Hoàng thái tử, ông đã gắng từ chối nhưng không được. Ông kết duyên dùng trưởng nữ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, tức Hoàng hậu Khâm Từ sau này.
Trần Nhân Tông thánh tính thông minh, tinh thông các sách nội ngoại điển. Ông mời nhiều Thiền khách đến để luận bàn Thiền học, đặc biệt là tham vấn và đắc pháp từ Thượng sĩ Tuệ Trung.
Ngày 22 tháng 10 năm Mậu Dần (1278), ông kế vị Thánh Tông, tự xưng là Hiếu Hoàng, đặt niên hiệu Thiệu Bảo, đến năm 1285 đổi thành Trùng Hưng.
Ông từng hai lần chỉ huy quân dân nhà Trần đánh thắng hai lần xâm lược của quân Nguyên vào năm 1285 và 1288. Sau khi đánh lui ngoại xâm, ông xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chúng an cư lạc nghiệp.
Năm 41 tuổi (1293), Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông lên làm Thái Thượng Hoàng.
Năm 1294, Ngài cầm quân sang chinh phạt Ai Lao, giữ yên bờ cõi và làm cho nước Triệu Voi tiếp tục thần phục Đại Việt.
Sau khi chinh phạt Ai Lao, Ngài trở về Hành cung Vũ Lâm – Ninh Bình, cầu Quốc sư Huệ Tuệ làm lễ Xuất gia, tập sự tu hành tại đây một thời gian. Năm 1299, Ngài quyết tâm trở lại thăm Kinh sư lần cuối, rồi đi thẳng lên núi Yên Tử – Quảng Ninh quyết chí tu hành, tham thiền nhập định, lấy tên là “Hương Vân Đại Đầu Đà” và độ Đồng Kiên Cương làm đệ tử và ban pháp hiệu là Pháp Loa. Tiếp đó, Ngài trở về chùa Phổ Minh phủ Thiên Trường giảng kinh, thuyết pháp, mở Hội đại thí vô lượng cho nhân dân.
Năm 1301, Ngài đi thăm hữu nghị đất nước Chiêm Thành, tạo lập mối quan hệ hợp tác, hòa bình, hữu nghị với các nước lân bang.
Năm 1304, Ngài chống gậy trúc dạo đi khắp nước Đại Việt, khuyến khích muôn dân giữ năm giới, tu hành Thập thiện, dẹp bỏ những nơi thờ cúng không đúng Chính pháp, loại bỏ những điều mê tín dị đoan… Sau đó, được Vua Trần Anh Tông thỉnh vào nội cung để truyền Bồ tát tâm giới cho Bá quan văn võ, quần thần.
Sau chuyến thăm hữu nghị Chiêm Thành năm 1301, Ngài có hứa đính hôn Công chúa Huyền Trân cho Vua Chiêm là Chế Mân. Năm 1305, Vua Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài và phái đoàn ngoại giao mang vàng, bạc… sính lễ cầu hôn. Đến năm 1306, Ngài đứng ra chứng minh hôn lễ giữa Công chúa Huyền Trân và Chế Mân – Vua Chiêm Thành.
Trước thành quả ngoại giao hôn phối ấy, Vua Chiêm đã dâng hai quận Châu Ô, Châu Rí cho Đại Việt làm quà sính lễ. Đây chính là điều kiện giúp cho Đại Việt mở rộng bờ cõi về phương Nam là Thuận Hóa (Huế).
Năm 1307, Ngài truyền y bát lại cho Tôn giả Pháp Loa, lên làm Sơ Tổ Trúc Lâm và Pháp Loa là Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Trong thời gian đó, Ngài thường lui tới chùa Báo Ân Siêu Loại, Sùng Nghiêm Hải Dương, Vĩnh Nghiêm Lạng Giang, chùa Từ Lâm, chùa Quỳnh Lâm Đông Triều để giảng kinh, thuyết pháp, tu hành.
Trước khi nhập diệt, Ngài đã để lại bài kệ cho thị giả hầu cận bên Ngài là Bảo Sát: “Tất cả pháp không sanh. Tất cả pháp không diệt. Ai hiểu được như vầy. Thì chư Phật hiện tiền. Nào có đến có đi” (Nhất thiết pháp bất sanh. Nhất thiết pháp bất diệt. Nhược năng như thị giải. Chư Phật thường tại tiền. Hà khứ lai chi hữu).
Sau khi Ngài mất, Bảo Sát theo di chúc hỏa táng Ngài, sau đó bốn hôm, tôn giả Phổ Tuệ đến, dùng nước thơm rưới lên giàn hỏa làm lễ. Xong xuôi, thu lấy ngọc cốt và xá lợi ngũ sắc.
Vua Anh Tông thống lĩnh triều thần lên núi rước ngọc cốt và xá lợi Điều Ngự về kinh thành. Vua Anh Tông tôn Điều Ngự hiệu là: Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật.
Sau khi hoàn tất trai sự, vua Anh Tông đưa ngọc cốt Điều Ngự vào Đức Lăng, tôn miếu hiệu là Nhân Tông. Xá lợi chia làm hai phần, một phần đặt tại Đắc Lăng ở phủ Long Hưng, một phần đặt tại chùa Vân Yên trên núi Yên Tử.
Nam Mô Trúc Lâm Sơ Tổ Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, Tổ Sư Tác Đại Chứng minh.


