GS.TS. Vũ Đức Nghiệu, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
DẪN NHẬP
Các văn bản Nôm khắc trên mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà có những giá trị quý chẳng những về mặt tôn giáo, lịch sử tôn giáo, văn hóa mà cả về mặt văn tự và ngôn ngữ. Bài này khảo luận về mấy dấu tích của tiếng Việt cổ, trung đại còn lưu trong ba bài phú thời Trần (Cư trần lạc đạo phú; Đắc thú lâm truyền thành đạo ca Vân (Hoa) Yên tự phú) trong tập Thiền tông bản hạnh và bản Hộ pháp luận. Văn bản và bộ ván khắc Hộ pháp luận hiện lưu tại chùa Bổ Đà, được giải âm và khắc ván vào thế kỷ XVIII. Văn bản và bộ ván khắc tập Thiền tông bản hạnh cần được nói thêm một chút về lai lịch và diễn biến của nó.
Văn bản Thiền tông bản hạnh lưu tại chùa Vĩnh Nghiêm hiện nay được khắc năm 1932 theo một bản khắc trước đó vào năm 1805, năm Gia Long thứ tư. Điều này thể hiện ở lời dẫn khắc trên ván. Bộ ván thời Gia Long hiện không còn để lại gì.
Ngoài bản khắc năm 1932, còn một bản in từ bộ ván được khắc từ năm 1745. Bản in này do Giáo sư Hoàng Xuân Hãn sưu tầm được tại chùa Liên Phái (Liên Hoa) vào năm 1943 và công bố lần đầu vào năm 1966 tại Sài Gòn trên Tạp chí Phật học Vạn Hạnh số 15. Sau đó, ông phiên âm, khảo chú và công bố tại Paris năm 1978, 1979, 1980 trên tập san Khoa học Xã hội số 5, số 6 và số 7.
Bản khắc 1745 vốn cũng là trùng san của một bản trước đó và chỉ có các văn bản: Yên Tử sơn Trúc lâm Trần triều Thiền tông bản hạnh của Hòa thượng Chân Nguyên, Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm truyền thành đạo ca của Phật hoàng Trần Nhân tông, Vân Yên tự phú của đệ Tam Tổ Trúc Lâm Huyền Quang, bài Ngộ đạo nhân duyên đẳng kệ.
Bản khắc in năm 1932 đã thu thập, khắc thêm bài Giáo tử phú (được cho là do Mạc Đĩnh Chi sáng tác), bài ký Du Yên Tử sơn nhật trình, bài Thiếu thất phú do Bạch Liên tiểu sĩ sáng tác, bài Thiền tịch phú do Hòa thượng Chân Nguyên sáng tác. Tiêu đề bài hạnh sửa thành: Trần triều Thiền tông chỉ Nam truyền tâm quốc ngữ hạnh.
Về mặt văn tự, theo số liệu khảo sát của Lương Thị Thanh Dung (2010, tr.60-61), sách Thiền tông bản hạnh có 8471 chữ Nôm thì giữa bản 1745 với bản 1932 có 786 chữ có khác nhau về cách viết (cấu trúc của chữ). Cụ thể là:

Những khác biệt này sẽ được đánh giá riêng về mặt văn tự học. Còn về mặt nội dung văn bản và từ ngữ thì bản khắc năm 1745 và 1932 không có khác biệt. Được khắc in năm 1932 nhưng bản khắc Vĩnh Nghiêm tiếp nối từ bản Gia Long (1805), bản Gia Long tiếp thu từ văn bản 1745 do Hòa thượng Chân Nguyên tổ chức san khắc; và chắc chắn văn bản 1745 đã tiếp nối từ (những) văn bản nào đó khác nữa (mà chúng ta hiện không còn tìm được dấu tích) cho đến thời của Tam Tổ Trúc Lâm.
Trong bài này tôi xin trình bày một số khảo chứng về mấy dấu tích ngôn ngữ xưa rất có ý nghĩa đối với nghiên cứu diễn tiến lịch sử của tiếng Việt: hai từ la đá, chiêm bao và hai từ cái, con trong hai danh ngữ cái dơi (= con dơi), con sàng (= cái giường).
Nguồn ngữ liệu được sử dụng là: 1) văn bản Thiền tông bản hạnh do Hoàng Thị Ngọ khảo cứu, phiên âm, chú giải (2009) trên bản in 1745, tham chiếu bản 1932; 2) bản phiên âm chữ Quốc ngữ Hộ Pháp luận, ký hiệu AB.381, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội. Bản chữ Nôm 1745 và 1932 được dùng để đối chiếu.
1. TỪ “LA ĐÁ”, TỪ “CHIÊM BAO”
1.1. La đá được ghi trong Vịnh Hoa yên tự phú hai lần: La đá từng thê dốc, một hòn uốn vịn một hòn (bản khắc 1745, tr. 32b); Voi la đá tính từ chẳng đố (bản khắc 1745, tr. 33b); và trong Thiền tông bản hạnh ghi nhận một lần: Trong cửa thạch tượng lạ bao, có voi la đá uy hào cực thiêng (bản khắc 1932, câu thơ thứ 192).
Đây là một trong những dấu tích quý hiếm ghi nhận một dạng thức từ rất cổ của Việt ngữ, gọi là những từ cận đơn tiết (sesquisyllable – được ký hiệu là CvCVC), gồm một âm tiết phụ đứng trước (ký hiệu Cv) được nói lướt nhẹ đi, và âm tiết chính đứng sau (ký hiệu CVC), phát âm rõ, “mạnh” hơn.
Từ bên trái sang phải, trên xuống dưới là hai chữ la đá trong ‘Vịnh Hoa yên tự phú’, bản khắc in 1745, tr.32b; bản khắc tại chùa Vĩnh nghiêm 1932, tr.27b; và hai chữ la đá trong ‘Thiền tông bản hạnh’, bản khắc tại chùa Vĩnh Nghiêm 1932, tr.5b.
Trước nay, từng có những cách đọc khác nhau cho từ này (đá/ la đá/ là đá; thậm chí hiểu là ngữ đoạn là đá); nhưng nay, các nghiên cứu hữu quan của đều đã thống nhất đọc là la đá, nghĩa là “đá”. Kiểm tra một số nguồn ngữ liệu thời tiếng Việt cổ, trung đại, chúng ta có thể thấy từ này được ghi chép ở những nguồn như sau:

Âm đọc được phiên chuyển sang chữ Quốc ngữ la đá, không khó giải thích. Vào thời gian ra đời của các văn bản đang xét, các từ có dạng cận đơn tiết như la đá đang trong quá trình biến đổi của chúng: đa số trở thành từ đơn tiết bằng cách cho rụng tiền âm tiết đi, chỉ giữ lại âm tiết chính, nhưng cũng có những từ thực sự trở thành song tiết.
Trong các ngôn ngữ ProtoVietic và Môn-Khmer, cấu trúc từ cận đơn tiết không có gì xa lạ. So sánh với dạng phục nguyên ProtoVietic, Proto Môn-Khmer của một số từ khác, ta có thể thấy:
Các hình thức ngữ âm, ngữ nghĩa tương ứng với la đá của Việt trong các ngôn ngữ Việtic (trước nay thường gọi là Việt Mường) cho thấy như sau (lưu ý là trong số đó, có ngôn ngữ đã đơn tiết hóa xong như Việt, nhưng có ngôn ngữ đến nay vẫn giữ hình thức CvCVC, như tiếng Rục, Arem, Mã liềng):

Dựa vào các dạng thức chữ Nôm trong các văn bản tiếng Việt cổ, trung đại, dựa vào dạng thức ngữ âm ngữ nghĩa của từ đang tồn tại trong các ngôn ngữ tiểu chi Việttic, dạng protoVietic của từ đá trong tiếng Việt hiện nay đã được phục nguyên là * ləta̰Ɂ (M. Ferlus, 2007; H. Shorto, 2006 a; Nguyễn Tài Cẩn, 1995). Tự dạng Nôm LA ĐÁ trong Vịnh Hoa Yên tự phú và trong các văn bản khác là bằng chứng xác thực để phục nguyên dạng proto (tiền ngôn ngữ) của đá, đồng thời cũng là vật chứng để kiểm chứng kết quả phục nguyên * ləta̰Ɂ.
1.2. Từ chiêm bao được ghi trong bài Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca (bản 1745, tr.31a) và trong Thiền tông bản hạnh (bản 1745 và 1932, các câu thơ 96, 144, 432, 439, 460). Các sách ngữ pháp hiện tại giải thích đây là từ ngẫu kết, không biết được nghĩa của từng thành tố là gì. Điều này có lý do của nó. Chiêm bao vốn là từ cận đơn tiết, có cấu trúc CvCVC, được chữ Nôm ghi bằng hai âm tiết “chiêm” và “bao”. Trong một số văn bản Nôm khác, cũng thấy có từ này, chẳng hạn: Khóa hư lục “Đời mình bèn xảy nên một giấc chiêm bao” (tr.11b); Cổ châu lục “Xảy ban đêm chiêm bao thấy một người cao cả bảo rằng” (câu 82), Truyền kỳ mạn lục “Ôm áo kíp dậy, thời chốn cửa sổ nan một chốc chiêm bao” (q1.14a) và những quyển, trang khác. Trong các ngôn ngữ Việtic và nhiều ngôn ngữ Môn Khmer khác có những tương ứng như:
Shorto (2006 a) phục nguyên dạng Proto Môn-Khmer * mp[ɔ]Ɂ cho từ chiêm bao. Khảo sát mở rộng sang các văn bản Nôm khác, những từ Việt cổ có cấu trúc tương tự như la đá, chiêm bao không phải ít. Ví dụ, trong 4 tài liệu là từ điển hoặc thực tế là từ điển:
– Nam dược quốc ngữ phú ghi nhận 11 từ: bà (bồ) các, 14a. bà ngựa,13b,16a. (cỏ) bồ cóc, 10a. cà cuống, 14a. đồng (bồ) kết, 6a. la đá, 3b, 8a, 9a, 14b. (cây) lồ bịt, 11b. lồ mướp, 8a, lồ vừng, 8a, 9b. mồ hòn, 8b, 8b. (cây) mồ ngưu, 11b.
– Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa ghi nhận 14 từ (một vài từ có những biến thể về hình thức): bà cắt (tr.172) / bồ cắt (tr.176), bồ cò (tr.173, 175), bồ cóc (tr.185), bồ đài (tr.197), bồ kết (tr.206), bồ nâu (tr.197), bồ ngưu (tr.193), bồ
nông (tr.174), mồ hòn (tr.195, 197), lồ mướp (tr.206), lồ vừng (tr.111, 204), la đá
(tr.84, 84, 166, 203), bồ cu (tr.174), bồ câu (tr.174).
– Từ điển Annam – Lusitan – Latinh ghi nhận 16 từ: bồ cu, bồ câu, bồ nhin
[= bù nhìn ] (với các biến thể ngữ âm: mồ din, bồ blanh / bồ din [mục từ
Nộm], mồ dìn, bồ dìn, bồ blin, mồ din [mục từ Môi]), bồ quân / mồ quân, bồ
hòn / mồ hòn, bồ nâu / mồ nâu, bồ cắt, bò cát (bọ cạp), bò nẹt, bò ong (loài chim), bò
các, bùi nhùi(với các biến thể ngữ âm: mùi dùi, mồi nhồi, mùi nhùi, bùi dùi),
cà cưỡng, cà cuống, cà kheo, la đá.
– Đại Nam quốc ngữ ghi nhận 12 từ: bồ cắt, bồ câu, bồ cu, bùi dùi (nhùi),
bồ hóng, bồ nâu, bồ cào, bồ hái, bồ hòn (tr.285), bồ kết (tr.285), mồ hôi, bồ quân
(tr.264).
– Bên cạnh đó là một số tài liệu không phải là từ điển, như: Khoá hư lục có từ bà cắt (tr.64b), Quốc âm thi tập có từ bà ngựa (Thủ vĩ ngâm), Thiên Nam ngữ lục có từ bà cắt (câu 2769), bồ câu/bồ cu (câu 3541) bồ cóc (câu 1880).
1.3. Một câu hỏi đặt ra là: tại sao hình thức la đá thì cho ta từ đá hiện nay, mà những từ khác như chiêm bao, mồ hôi, bù nhìn, … thì lại giữ dạng song tiết? Điều này không khó giải thích. Lý do là ở chỗ: trong tiến trình phát triển lịch sử của các ngôn ngữ Việtic (và nhiều ngôn ngữ trong vùng), xu thế đơn tiết hóa đã diễn ra, nhưng tác động đến từng từ thì lại không đồng đều. Từ cận đơn tiết, nói một cách đơn sơ, không chặt chẽ lắm, thì có thể xem như gồm “một âm tiết rưỡi”. Vì vậy, gọi là từ cận đơn tiết cũng được, mà gọi là cận song tiết cũng được. Khi xu thế đơn tiết diễn ra, từ nào mà được đơn tiết hóa thì tiền âm tiết rụng đi, chỉ còn âm tiết chính được giữ lại và trở thành từ đơn tiết triệt để cho đến ngay nay; từ nào mà tiền âm tiết không rụng đi, thì được giữ lại, không bị phát âm lướt đi mà trở thành âm tiết thực thụ; toàn bộ từ trở thành song tiết. Vì thế, * ləta̰Ɂ và * mp[ɔ]Ɂ lần lượt cho la đá và chiêm bao hiện nay.
Quá trình biến chuyển từ cận đơn tiết sang đơn tiết diễn ra dần dần và không đồng loạt. Một số nguồn ngữ liệu ghi nhận cả hai hình thức cận đơn tiết và đơn tiết. Đó là biểu hiện bước quá độ trong quá trình biến đổi của các dạng cận đơn tiết tương ứng. Ví dụ, kết quả khảo sát trong các văn bản sau:

Từ những ngữ liệu và phân tích trên đây, ta có thể thấy được sự biến chuyển của la đá – đá, lồ mướp – mướp, lồ vừng – vừng, ton ngót/hót – hót; bà cắt – cắt, bồ câu – (chim) câu, bồ cu – (chim) cu, bà ngựa – ngựa, bồ nâu – nâu. Từ trường hợp của từ la đá và chiêm bao, những gợi ý cho việc tìm tòi từ nguyên của những từ hiện được gọi là từ ngẫu hợp như trên đây đã xuất hiện; và đã có một số khảo chứng thành công đáng tin cậy. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: việc xác định những từ “ngẫu kết/ ngẫu hợp” như mấy từ mồ hôi, chiêm bao,… từ nào nảy sinh từ hình thái từ cổ CvCVC, từ nào nảy sinh do biến hóa của hình thái từ cố C1C2VC luôn luôn là việc rất khó khăn và phức tạp (Vũ Đức Nghiệu: 2015).
Như vậy một dạng thức từ la đá được ghi nhận trong văn bản Nôm cổ mà có thể góp phần cung cấp cho chúng ta được không ít thông tin rất hữu ích và quan trọng cho công cuộc khảo xét những dấu vết xưa, phục vụ cho việc tìm hiểu ngôn ngữ ngày nay của dân tộc.
2. TỪ CON VÀ TỪ CÁI TRONG DANH NGỮ CON SÀNG VÀ CÁI DƠI
Trong bài phú Cư trần lạc đạo có câu “Thầy Hồ xua chó, trỏ xem trí nhẹ con sàng” (bản 1745, tr.28b; bản Vĩnh Nghiêm, tr. 47,). Trong văn bản Hộ pháp luận có câu …“năm trăm cái dơi, nhân vui tiếng pháp, được làm năm trăm đấng thánh hiền” (tr.46a).
Theo cách nhìn hiện nay, danh ngữ con sàng, cái dơi là không bình thường, vì mô hình danh ngữ tiếng Việt hiện đại là [ Lt. + Dt ] (loại từ + danh từ), trong đó:
– Những từ như con, thằng, kẻ, đứa, tên, lão, cái, chiếc, sự, cuộc, việc, niềm,… được gọi là “loại từ”. Chức năng của “loại từ” được cho là quy danh từ kết hợp với chúng vào “loại” nào: người, động vật, đồ vật, sự vật,…
– Các danh từ động vật ([+ đv] như: gà, trâu, người, dơi) phải kết hợp những “loại từ” như: con, thằng, đứa, kẻ, …
– Các danh từ bất động vật ([- đv] như: đũa, dép, gậy, nhà) phải kết hợp với (những) loại loại từ như: cái, chiếc, sự, cuộc, mảnh, miếng, viên, hòn,… Những danh ngữ như: cái cò, cái vạc, cái tép, cái tôm, con dao, con mắt,… thường được giải thích là những trường hợp đặc biệt, không rõ lý do; hoặc được diễn giải rằng động vật bé thì gọi là cái, vật bất động mà coi như có hoạt động thì gọi là con. Cách diễn giải này có vẻ như có lý ở một số trường hợp định danh theo phép ẩn dụ: con mắt, con dao, con sông, con đường,… nhưng thiếu tính hệ thống của ngữ pháp. Dưới đây là một vài phân tích và nhận xét vắn tắt về từ con, từ cái trong hai danh ngữ nêu trên
và những trường hợp tương tự.
2.1. Nếu con và cái có chức năng làm “loại từ” để định loại cho danh từ kết hợp với chúng thì không thể có hàng loạt danh ngữ mà ở đó từ con kết hợp với danh từ bất động vật [ con + D (- đv) ], từ cái kết hợp với danh từ động vật [ cái + Dt (+ đv) ]. Từ con trong danh ngữ con sàng và từ cái trong danh ngữ cái dơi đã góp phần làm cho dài thêm danh sách các danh ngữ có mô hình vừa nêu.
Các nguồn ngữ liệu (45) từ thời tiếng Việt cổ, trung đại cho đến nay được khảo sát cho thấy số liệu cụ thể về các danh ngữ [ con + Dt.(- đv) ] và [ cái + Dt.(+ đv) ] như sau:
Bảng 5. Số liệu khảo sát cụ thể
danh ngữ cái + Dt [+ đv] và danh ngữ con + D [- đv]


Những số liệu này rất có ý nghĩa. Nếu cái và con là những từ có chức năng định loại cho danh từ thì không thể có mô hình [ cái + Dt.(+ đv) ] và [ con + Dt.(- đv) ] cùng với số lượng danh ngữ cụ thể nhiều như vậy. Thêm nữa, nếu hai từ: cái, con nói riêng và các “loại từ” nói chung có chức năng định loại cho danh từ kết hợp với chúng thì khi hai, ba “loại từ” cùng có khả năng kết hợp với một danh từ, chúng sẽ phân loại danh từ thế nào ? (như các danh ngữ: con thuyền, cái thuyền, chiếc thuyền; pho tượng, bức tượng, ông tượng; đóa hoa, bông hoa, cái hoa chẳng hạn).
2.2. Việc tổ chức danh ngữ [ cái + Dt (+ đv) và [ con + Dt (- đv) ] trong tiếng Việt cổ, trung đại, có lý do ở ngữ nghĩa, ngữ pháp của hai từ: cái và con. Một số nghiên cứu hữu quan (Cao Xuân Hạo:1988, Vũ Đức Nghiệu: 2020) đã phân tích và chứng minh rõ các thuộc tính ngữ pháp của từ cái, từ con và những “loại từ” khác (chiếc, cục, quyển, viên, hòn, vầng, nỗi, niềm, sự, cuộc, …) là thuộc tính ngữ pháp của danh từ. Cụ thể hơn, chúng là các danh từ đơn vị, hoàn toàn không phải là “loại từ” (classifiers – những từ để xác định loại cho danh từ), như các tài liệu ngữ pháp hiện
nay vẫn đang thể hiện.
Thuộc tính danh từ của cái và con thể hiện ở mấy điểm chính sau đây:
a) Chúng hoàn toàn có khả năng đứng làm trung tâm của danh ngữ.
Con này là con gì ? – Con này là con bò.
Anh cầm cái này về mà dùng.
b) Có thể đòi hỏi và kết hợp được với các loại định ngữ khác nhau
như mọi danh từ khác. Ví dụ:
mua con gà cf. mua hộp sữa
bắt con lớn nhất cho nó. cf. lấy hộp bé nhất cho nó.
cầm lấy cái này cf. thích chai kia
cái nó thích là cái bật lửa cf. chè nó thích là chè ô long
c) Có thể chủ ngữ, đề (trong ngữ cảnh đã biết hoặc được xác định trước), làm bổ ngữ, định ngữ. Ví dụ:
Còn mấy cái bát, cái thì nứt, cái thì mẻ.
Ở đây, cua bán con, không bán cân.
d) cái, con có thể đại diện cho danh ngữ. Ví dụ:
Anh nuôi mấy con chó ? Họ có mấy cái nhà?
– Ba con – Hai cái
e) Cái và con là hai danh từ đơn vị. Chúng được dùng để biểu thị một cá thể, một đơn vị để tính đếm. Điều này thể hiện rõ nhất ở chỗ: chúng có tính đếm được (countability), kết hợp được với số từ, lượng từ, phân lượng từ; và trong danh ngữ, chúng không kết hợp được với bất kỳ một danh từ đơn vị nào khác nữa. Ví dụ:
hai con chó ba cái bánh
vài con bò dăm chiếc bút bi
nửa/ hai phần ba con gà nửa/ hai phần ba cái pizza
một đàn trâu * một đàn con trâu
hai cái bánh * hai cân cái bánh
2.3. Từ cái có từ nguyên xác định được. Nó vốn là danh từ. Cái là âm đọc Việt hóa của từ cá (個) nguồn gốc Hán Việt. Ngữ âm thời tiếng Hán trung đại của nó là: kaH (k- + -a C), bắt nguồn từ dạng ngữ âm thời Hán cổ của nó là * kˤa[r]-s (Baxter và Sagart: 2014). Trong Hán ngữ học hiện đại, từ 個 (gě)/cá được gọi là lượng từ (quantifier).
Từ điển Việt – Bồ Đào Nha – Latinh (1651) ghi ở cột 79: “Cái này esta cousa: hoc. cá này idem” (cái này như cá này). Ngoài ra, từ điển này và văn bản: Cổ Châu lục, Truyền kỳ mạn lục cũng ghi nhận những danh ngữ như:
cái gấm vàng CổChL. c.204
cái lụa TkMl. q3 tr.57b
cái bố Dic.1651. co.48
cái óc (vóc) Dic.1651. co.71
cái đủi (đũi) Dic.1651. co.242
cái lểnh (lĩnh) Dic.1651. co.410
cái lụa Dic.1651. co.428
cái nhẽu (nhiễu) Dic.1651. co.550
cái phảng Dic.1651. co.595
cái rè Dic.1651. co.644
cái the Dic.1651. co.753
Trong các danh ngữ này, từ cái kết hợp với danh từ khối, chỉ chất liệu, không đếm được (lưu ý: đây không phải là trường hợp như cái trong phát ngôn: cái nước này không nấu ăn được; cái thịt này hơi có mùi rồi). Từ cái ở đây chỉ có vai trò biểu thị đơn vị tính đếm như: tấm, cây, cuộn, thứ, loại ngày nay, không phải để phân loại, định loại cho các danh từ kết hợp với nó.
Như vậy, cái và con trong các nguồn ngữ liệu tiếng Việt cổ, trung đại thực sự đã góp phần khiến cho định kiến: cái là loại từ kết hợp với danh từ bất động vật, xác định cho vật được biểu thị bằng danh từ kết hợp với nó là “bất động vật”; còn con là loại từ kết hợp với danh từ động vật, xác định cho vật được biểu thị bằng danh từ kết hợp với nó là “động vật”; cái, con là thành tố phụ trong danh ngữ [ Lt. + Dt ] không đứng vững được.
3. KẾT LUẬN
Một vài dấu tích của tiếng Việt cổ còn lưu trong văn bản Nôm được khắc trên mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm và chùa Bổ Đà, thật ít ỏi, nhưng rất quý giá, vì chúng cùng với những nguồn ngữ liệu hữu quan góp phần quan trọng cho công tác nghiên cứu lịch sử Việt ngữ. Còn khá nhiều vấn đề khác như từ ngữ Việt cổ, từ ngữ Phật giáo, chữ Nôm,… vẫn đang chờ đợi được khai thác, nghiên cứu thêm./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Baxter W. H. – Sagart L. (2014) Old Chinese reconstruction, version 1.1 (20September2014),https://ocbaxtersagart.lsait.lsa.umich.edu/BaxterSagartOCbyMandarinMC2014-09-20.pdf. Truy cập: 27.02.2023.
2. Cao xuân Hạo 1988. Sự phân biệt đơn vị / khối trong tiếng Việt và khái niệm “loại từ”. Trong sách Tiếng Việt – mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa. NXB. Giáo dục.Hà Nội, 1998, tr. 305-328.
3. Ferlus, M. (2007). Lexique de racines Proto Viet-Muong [Proto Vietic Lexicon]. Unpublished manuscrip. http://sealang.net/monkhmer/database/
4. Hoàng Thị Ngọ (2009). Thiền tông bản hạnh (Khảo cứu, phiên âm, chú giải). NXB. Văn học; Hà Nội.
5. Lương Thị Thanh Dung (2010). Nghiên cứu sự dịch chuyển văn bản Thiền tông bản hạnh giữa bản in năm 1745 và bản in năm 1932. Luận văn thạc sĩ khoa học Hán Nôm. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
6. Nguyễn Tài Cẩn (1995). Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt. NXB. Giáo dục. Hà Nội.
7. Shorto, H.; 2006 a. A Mon-Khmer Comparative Dictionary. The Australian National University; Canberra, Australia.
8. 2006 b. Cusstom Dictionary Language: Bahnar (http://selang.net/monkhmer/database).
9. Vũ Đức Nghiệu, 2020. Ngữ pháp lịch sử tiếng Việt: Từ và ngữ đoạn. NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội.
10. 2016. Monosyllabificaton and polysyllabification in the evolution of the Vietnamese language. In: Vietnam in history and transformation (Selected Readings). Lambert Academic Publishing. 142-176 pp.
11. 2015. “Các biến đổi ngữ âm lịch sử với việc tạo từ tiếng Việt”. Ngôn ngữ, số 6; tr.3-16
TÊN ĐẦY ĐỦ, XUẤT XỨ CÁC NGUỒN NGỮ LIỆU ĐƯỢC KHẢO SÁT
1. Phật thuyết phụ mẫu đại báo ân trọng kinh. (Hoàng Thị Ngọ phiên âm, chú giải; Trong sách Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết phụ mẫu đại báo ân trọng kinh. NXB. Khoa học xã hội. Hà Nội, 2002).
2. Cư trần lạc đạo phú. Trong sách Thiền tông bản hạnh. (Hoàng Thị Ngọ khảo cứu, phiên âm, chú giải). NXB. Văn học; Hà Nội, 2009.
3. Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Trong sách Thiền tông bản hạnh. (Hoàng Thị Ngọ khảo cứu, phiên âm, chú giải); NXB. Văn học; Hà Nội, 2009.
4. Vịnh Hoa yên tự phú. Trong sách Thiền tông bản hạnh. (Hoàng Thị Ngọ khảo cứu, phiên âm, chú giải); NXB. Văn học; Hà Nội, 2009.
5. Khoá hư lục (Thiền tông khóa hư ngữ lục). Trần Trọng Dương khảo cứu, phiên chú; NXB. Văn học, Hà Nội, 2009.
6. Nam dược quốc ngữ phú Trong sách Hồng nghĩa giác tư y thư. Ký hiệu A.162; Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.
7. Thập giới cô hồn quốc ngữ văn. Trong Thiên Nam dư hạ tập. Ký hiệu A.334; Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.
8. Quốc âm thi tập. Nguyễn Trãi. Trong sách Nguyễn Trãi: Quốc âm từ điển. Trần Trọng Dương; NXB. Từ điển Bách khoa, 2014.
9. Hồng Đức quốc âm thi tập. Ký hiệu AB.292; Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.
10. Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa. Hoàng Thị Ngọ phiên âm, chú giải; Trong sách Từ điển song ngữ Hán Việt Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa. NXB. Văn học, 2016.
11. Cổ châu Phật bản hạnh. (Gọi tắt: Cổ châu hạnh). Trong sách Di văn chùa Dâu (Nguyễn Quang Hồng chủ biên. NXB. Khoa học Xã hội, 1997)
12. Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục. (Cổ châu lục). Trong sách Di văn chùa Dâu. Nguyễn Quang Hồng chủ biên. NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997.
13. Truyền kỳ mạn lục giải âm. Nguyễn Quang Hồng phiên chú; NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2001.
14. Phép giảng tám ngày cho kẻ muấn chịu phép rửa tội mà vào đạo thánh đức chúa blời. A. de Rhodes. Tủ sách Đại kết, 1993.
15. Lịch sử nước Annam (B. Thiện). Trong sách Lịch sử chữ quốc ngữ 1620 -1659; Đỗ Quang Chính, NXB. Tôn giáo, 2008.
16. Dictionarivm Annamiticvm Lvsitanvm, et Lainvm. A.de. Rhodes.
17. Thư thế kỷ XVII. Gồm:
– 7 văn bản thư: Thư của Igesico Văn Tín (viết tắt: VTín), Thư của Bentô Thiện (viết tắt: BThiện); trong sách Lịch sử chữ quốc ngữ 1620 -1659; Đỗ Quang Chính phiên chuyển, NXB. Tôn giáo, 2008.
– Các văn bản (viết tắt: vb.) thư số 1, 2, 3, 4, 5 trong sách Chữ quốc ngữ thế kỷ XVIII. Đoàn Thiện Thuật sưu tầm và chủ biên. NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2008.
18. Thư thế kỷ XVIII. Gồm các văn bản (viết tắt: vb.) thư số 6 đến thư số 40; trong sách Chữ quốc ngữ thế kỷ XVIII. Đoàn Thiện Thuật sưu tầm và chủ biên. NXB. Giáo dục, Hà Nội, 2008).
19. Chinh phụ ngâm khúc. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 13B; NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997.
20. Cung oán ngâm khúc. Nguyễn Gia Thiều. (Nguyễn Lộc khảo đính, giới thiệu). NXB. Văn học. Hà Nội, 1986.
21. Thiên Nam ngữ lục. Nguyễn Thị Lâm khảo cứu và biên soạn; NXB. Văn học, Hà Nội, 2001.
22. Hộ Pháp luận. Ký hiệu AB.381; Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.
23. Đại Nam quốc sử diễn ca. Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái. Bản phiên âm chữ Quốc ngữ, theo http://www.thanhvinh.net/quantro/?p=574
24. Dictionarium Anamitico Latinum. Pigneau de Behaine. Archive des Missions Etrangères de Paris, 2001.
25. Truyện Kiều. Trong sách Tư liệu Truyện Kiều: Thử tìm hiểu bản sơ thảo Đoạn trường tân thanh. Nguyễn Tài Cẩn. NXB. Giáo dục, 2008.
26. Sách sổ sang chép các việc. Philiphê Bỉnh. Viện Đại học Đà Lạt, 1968.
27. Nhật dụng thường đàm. (Trong sách: Khảo cứu từ điển song ngữ Nhật dụng thường đàm của Phạm Đình Hổ; NXB. Văn học, Hà Nội, 2016. Tác giả: Trần Trọng Dương).
28. Dictionarium Anamitico Latinum. A.J.L.Taberd; Fredericnagori Vulgo Serampore, 1838.
29. Vocabulaire Francais – Annamite et Annamite – Francais. DEM. Aubaret. Bangkok,1861.
30. “Tự tình khúc”. Đông Dương Tạp chí (số ra ngày 13. 2. 1916, tr.463).
31. Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876. Trương Vĩnh Ký. “http://vi.wikisource.org/w/
index.php?title=Chuyến_đi_Bắc_Kỳ_năm_Ất_Hợi_1876& oldid=29918”.
32. Grammaire de la Langue Annamite. Saigon – Guilland and Martinon. 1883.
33. Dictionarium Anamitico Latinum. Theurel; Ninh Phú, 1887
34. Thầy Lazaro Phiền. Nguyễn Trọng Quản. 1887. (Bản PDF của Nguyễn Văn Trung, Montréal, tháng1,1999). https://cvdvn.files.wordpress.com/2017/10/thay-lazaro-phien.pdf
35. Sách dẫn đàng nói truyện bằng tiếng Phalangsa và tiếng Annam (Manuel de conversation Franco – Tonkinois). Par M M. Bon (Cố Bản) et Dronet (Cố Ân); Kẻ Sở, 1889.
36. Đại Nam quấc âm tự vị. Huình Tịnh Paulus Của. Saigon Imprimerie REY, CURIOL & Cie, 4, rue d’ Adran, 4. 1895-1896.
37. Grammaire Annamite à l’usage des Francais de l’Annam et du Tonkin. P.-G.V. Hanoi, 1897.
38. Dictionaire Annamite – Francais. J.F.M. Genibrel; Saigon,1898.
39. Đại Nam quốc ngữ. Nguyễn Văn San. (Lã Thị Minh Hằng khảo, phiên, dịch, chú. Hà Nội, 2013).
40. Nam hải dị nhân. Phan Kế Bính. 1912; (NXB. Trẻ, 1988).
41. Thơ Tản Đà (Tuyển tập Tản Đà; tr.65-252). NXB. Văn học, Hà Nôi, 1986.
42. Tố Tâm. Hoàng Ngọc Phách (1922), (kể cả lời nói đầu của tác giả); NXB. Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1988.
43. Việt Nam tự điển. Khai Trí Tiến Đức. Hà Nội Imprimerie Trung Bắc Tân văn. Mặc Lâm xuất bản, 1931.
44. Từ điển Việt Nam. Thanh Nghị. NXB. Thời thế. Sài gòn, 1958.
45. Từ điển tiếng Việt. Hoàng Phê chủ biên. Trung tâm Từ điển học – NXB.
Đà Nẵng, 2010


