PGS.TS Trần Thị Hoa Lê
Đại học Sư phạm Hà Nội
- Diễn trình cảm hứng Thiền đạo/tư tưởng Thiền tông trong văn chương Trần tộc
“Cảm hứng Thiền đạo” bắt nguồn từ khát vọng truyền bá tư tưởng Thiền tông kết hợp với hứng thú sáng tạo nghệ thuật và quan niệm coi văn chương như một phương thức biểu hiện tối ưu cho mục đích xiển dương đạo học. Tư tưởng Tính Không vốn là yếu chỉ của Phật giáo Thiền tông đã được sa môn đất Việt liên tục kế truyền trong nhiều thế kỉ, đặc biệt từ thế kỉ VI – IX cùng với sự xuất hiện chính thức của hai sơn môn Nam Phương/Pháp Vân và Quan Bích/Kiến Sơ. Truyền thống dùng thi văn luận giải và truyền bá Thiền đạo được xây dựng bởi nhiều thế hệ danh tăng các đời Tiền Lê – Lý, tiêu biểu như Vạn Hạnh (? – 1018), Viên Chiếu (999 – 1090), Quảng Nghiêm (1122 – 1190), Huệ Sinh (? – 1063), Đạo Hạnh (? – 1117), các hoàng đế Lý Thái Tông (1000 – 1054), Lý Nhân Tông (1066 – 1128),…
Tuy nhiên, phải đến Trần Thái Tông mới thực sự hiện diện những văn bản Thiền học mang tính giáo nghĩa hệ thống, giáo quy bài bản và nghi thức trì tụng thiết thực cho người tu học Thiền tông ở các mức độ tu tập khác nhau. Ngoài một bài thơ tặng tiễn sứ Nguyên, các tác phẩm còn lại của Thái Tông (Thiền tông chỉ nam tự, Kim Cương Tam muội kinh tự, Khóa hư lục, Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn [2]) đều tập trung luận giảng, tỏ bày về triết lí và thi hứng Thiền tông.
Trước hết, vị trí khai mở cảm hứng Thiền đạo trong văn chương nhà Trần của Thái Tông thể hiện ở hai bài Tựa giữ vai trò tuyên ngôn tư tưởng, chính thức khẳng định cương lĩnh của Thiền phái Trần gia mà sau này sẽ mang tên Trúc Lâm Yên Tử bắt đầu từ vị đích tôn Nhân Tông.
Bài Tựa Kinh Kim cương Tam muội vừa khái quát “dòng sông trọng yếu của tự tính kim cương” vừa hướng dẫn chúng sinh con đường trở về “bản lai diện mục”: “Dục chỉ trừ ư hữu trụ hữu diệt, tiên dĩ tự ư vô tướng vô sinh” (Muốn dứt trừ hữu trụ hữu diệt, trước hãy bày vô tướng vô sinh). Thái Tông kể về sự giác ngộ Kinh Kim cương bằng lối trực giác của chính mình: “Thị kinh nhất kiến, tư cảm bách sinh; sách ẩn quân thâm, cửu tư tam phục” (Kinh này vừa gặp, trăm cảm đã sinh; sâu kín mối manh, suy đi nghĩ lại) (Kim Cương Tam muội kinh tự). Con đường nhập đạo của Ngài là con đường đốn ngộ/“khoát nhiên tự ngộ” mà đức Thích Ca cũng như Lục tổ đã trải qua: “Trẫm thường đọc Kinh Kim cương, đến câu Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm vừa gấp sách lại ngâm nga, bỗng nhiên tỉnh ngộ…” (Thiền tông chỉ nam tự). Mượn lời Quốc sư đại sa môn phái Trúc Lâm, bài Tựa Thiền tông chỉ nam nêu cao học thuyết “Tâm” “vô trụ xứ”, hoằng dương tư tưởng “vô trụ vi bản” vốn là cương yếu, tinh hoa của kinh điển Bát nhã: “Sơn bản vô Phật, duy tồn hồ tâm, tâm tịch nhi tri, thị danh chân Phật” (Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng, lòng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật).
Vậy, tại sao lại là Kim Cương Bát nhã ba la mật kinh, chứ không phải một trong số các bộ kinh trọng yếu khác của Phật giáo như Kinh Lăng Già, Kinh Duy Ma Cật,… hoặc một quyển nào khác trong số 600 quyển của bộ Đại Bát Nhã kinh? Sự lựa chọn này của Thái Tông đã mở ra yếu lĩnh Kim cương Bát nhã của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, cho đến đời Minh Tông, kì thi tăng nhân năm 1321 vẫn hỏi về Kinh Kim cương.
Có lẽ không chỉ đơn giản bởi Kinh Kim cương thể hiện tư tưởng trung tâm của bộ Đại Bát Nhã kinh 600 quyển nói trên. Sở hữu tư tưởng Tính Không triệt để của Bát Nhã Đại Thừa – cho rằng mọi vật trên thế gian đều hư huyễn, do nhân duyên hòa hợp mà thành, sinh diệt trong từng sát na, tất cả thế giới khách quan/chủ quan đều bất thực, giả tạm; cho nên, ngoài Thiền tông, nhiều tông phái Phật giáo khác như Tam Luận tông, Thiên Thai tông, Duy Thức tông… đều lấy Kinh Kim cương làm điển tịch quan trọng để tu tập. Cũng không chỉ bởi Kinh Kim cương đồng hành cùng Lục tổ Huệ Năng – vị sư tổ của Thiền phái Vô Ngôn Thông – tiền thân Trúc Lâm Yên Tử phái.
Nguyên nhân sâu xa hẳn là bởi “tư cảm” của Thái Tông đã dắt dẫn Ngài lựa chọn con đường phóng khoáng tự do này, nơi không gò bó hình thức hành thiền, với ý hướng đề cao trực giác đốn ngộ, coi trọng giác ngộ nội tâm của Thiền phái Nam Tông mà Lục tổ đề xướng. Bản thân tên bộ kinh đã khế hợp đường lối đốn ngộ như con đường giải thoát duy nhất cho chúng sinh. Bát nhã (Prajna) nghĩa là trí tuệ siêu việt thế tục đạt đến bờ bên kia là cõi Niết Bàn, Ba la mật (đáo bỉ ngạn – đến bờ bên kia), Kim cương (金 刚) mang ý nghĩa trí tuệ của Như Lai giống như sự kiên cường (“sáng, bén, cứng, chắc”) không hề bị biến đổi, không gì phá vỡ nổi của chày kim cương; và Tam muội (samadhi) nghĩa là Định – chính định, giữ tâm tĩnh lặng không tán loạn – một trong ba giai đoạn của con đường giải thoát Giới Định Tuệ.
Phải chăng Thái Tông đã tìm thấy sức mạnh nội tâm cũng như tinh thần nhậm vận tự tại sâu xa trong thái độ phủ định mạnh mẽ từ thế giới khách quan cho đến cả Phật pháp của Kinh Kim cương, sức mạnh giúp ông vượt thoát bi kịch gia tộc và ngôi báu, để có thể tiếp tục gánh vác xã tắc quốc gia?
Tuy khát vọng xuất gia không thành, song vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần đã thành công trong nghiên cứu nội điển, tham vấn đại giáo/đạo Thiền, để lại trước tác rất có giá trị cho đệ tử Thiền môn. Đó là nói về Khóa hư lục – tập bài giảng/học vừa uyên áo vừa dung dị dành cho đối tượng rộng rãi, từ những người sơ cơ bước đầu tu tập cho đến những vị hành giả thâm niên. Khóa hư lục bắt đầu từ những nguyên lí chung giàu tính triết học nhưng lại được diễn giải bằng nhiều hình ảnh sinh động, gần gũi: Phổ thuyết tứ sơn, Phổ thuyết sắc thân, Phổ thuyết hướng thượng nhất lộ, Phổ khuyến phát bồ đề tâm,… Phần đầu Khóa hư lục tập trung bàn luận vấn đề cốt tủy “tứ đại bản vô, ngũ uẩn phi hữu” (tứ đại vốn là Không, ngũ uẩn cũng chẳng có) dành cho nhận thức triết học của người tu bậc cao. Phần sau Khóa hư lục hướng về đa số tăng chúng với những hướng dẫn niệm Phật, tọa Thiền, thụ giới, sám hối khoa nghi… cụ thể, thiết thực. Có thể nói, tập bài học về cái Hư Không – Khóa hư lục đã gồm đủ “giáo nghĩa, giáo quy và nghi thức mà tín đồ phụng hành” – như một thế giới Phật Pháp Tăng thu nhỏ.
Cùng với hai bài Tựa, Khóa hư lục có vị trí đánh dấu bước chuyển quan trọng của Thiền tông Đại Việt từ giai đoạn “tiếp thu” Ấn Độ và Trung Hoa sang giai kì “chuyển hóa” mang dấu ấn “tự giác giác tha” quy củ, rõ rệt hơn. Thái Tông là ông vua đầu tiên của đất Việt để lại trước tác tiếp nối đầy đủ tư tưởng triết học cốt lõi cũng như nền tảng đạo đức, giá trị giáo dục của Phật giáo Thiền tông. Vấn đề bản thể luận – nguồn gốc và mối quan hệ giữa vũ trụ và con người – “tiên dĩ tự ư vô tướng vô sinh” “tứ đại bản vô, ngũ uẩn phi hữu”; vấn đề quan niệm đạo đức nhân sinh đề cao lối sống bao dung, hòa đồng, không tham lam tranh chấp “Vì chấp mà mê, như Man Xúc tranh giành; từ sai mà ngộ, giống Lỗ Tề thay đổi”; tư tưởng giáo dục coi trọng sự tự giác của người học vượt ngoài mọi định kiến ràng buộc thông thường “Một khổng địch, tấu vô sinh khúc; vô huyền cầm, phủ khoái hoạt ca” (sáo không lỗ, tấu khúc vô sinh; đàn không dây, dạo bài khoái hoạt)… tất cả những vấn đề cơ bản về triết học, đạo đức, giáo dục theo tinh thần Thiền tông đã được Thái Tông giảng bày tường tận trong các văn bản hiện còn. Với cách ấy, Ngài đã khai mở giáo nghĩa “vô trụ” “vô tâm” của Kim Cương bát nhã ba la mật kinh, tạo nên con đường Bát Nhã không chỉ con cháu Ngài sẽ kế truyền mà còn được tiếp nối đến hậu bối, tiêu biểu như Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) khi tổ chức sáng tác Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh hoặc như Nguyễn Du (1765 – 1820) khi đại thi hào liễu ngộ “Tài tri vô tự thị chân kinh”. Đối với đa số tăng chúng, cư sĩ, Khóa hư lục có thể coi là tài liệu hướng dẫn giáo quy hành thiền đầu tiên được soạn giảng một cách khoa học và giàu giá trị thực tiễn.
Ở đây có một nghịch lí, Thái Tông thay thế cho sự xuất gia không thành bằng nhiều trang viết của một nhà tu hành thực thụ; còn con trưởng và cháu đích tôn của ông từng chính thức xuất gia thì các trang viết lại mang dáng dấp thi sĩ giữa trần thế. Có thể giải thích nghịch lí này hay không? Trừ ra những văn bản đã thất truyền có nhiều khả năng chứng tỏ Thánh Tông và Nhân Tông cũng “truyền đạo” mạnh mẽ không kém Thái Tông, các tác phẩm còn lại của hai Ngài, xét về thể tài, nghiêng về đời hơn là đạo. Dù vậy, tính “Đạo” trong thi văn Thánh Tông, Nhân Tông không thể nói là nhạt mờ hơn so với các bài thuyết giáo của Thái Tông. Chung quy lại, chính từ Thái Tông đã hình thành phong cách hòa đồng Đạo với Đời, Thiền và Thi trong văn chương Trần tộc.
Ngoài các văn bản đã thất truyền, thơ văn Thánh Tông còn lại không nhiều, trong số 16 tác phẩm đã được phổ biến (gồm thơ, luận, câu đối), tỉ lệ sáng tác mang cảm hứng Thiền đạo có thể nói là cao (9/16), tiêu biểu như Họa Tuệ Trung Thượng sĩ, Đáp Tuệ Trung Thượng sĩ, Độc Đại Tuệ ngữ lục hữu cảm, Tự thuật, Chân tâm chi dụng, Sinh tử…
Tư tưởng Tính Không được Thánh Tông kiến giải chủ yếu thông qua những bài thơ mang dáng dấp Kệ, ví như bài Tự thuật này:
Cá trung vô khiếm diệc vô dư
Phật dã vô hề nhân dã vô
Thu cảnh viễn lai thiên ngoại viễn
Thanh sơn vân tỏa chủy đô lô
(Trong lòng ta không thiếu cũng không thừa/ Phật là không, người cũng là không/ Cảnh thu xa ở ngoài trời xa/ Mây khóa non xanh mặc cái trò đô lô)
Hoặc như bài Chân tâm chi dụng luận giải về những chữ “Vô”: “Chân tâm chi dụng / Tinh tinh tịch tịch / Vô khứ vô lai / Vô tổn vô ích / … Bất khả đạc lượng / Toàn vô tung tích” (Dụng của chân tâm/ Thông tuệ lặng lẽ/ Không đi không đến/ Không bớt không thêm/ … Không thể đo lường/ Hoàn toàn không có tung tích). Thánh Tông đơn giản hơn người cha về phương diện luận thuyết/giáo nghĩa, khuyết hẳn phần giáo quy/ nghi thức tu tập, bù lại, ông có cái sâu sắc gợi cảm của những câu thơ trữ tình đậm phong vị Thiền, chẳng hạn như “Chung nhật nhàn đàn bất điệu cầm / Nhàn môn vô sự khả quan tâm / Cá trung khúc phá vô nhân hội / Duy hữu tùng phong họa thử âm” (Suốt ngày thảnh thơi gảy cây đàn không điệu/ Trong cánh cửa nhàn không có việc gì đáng để tâm/ Khúc nhạc trong lòng ta đã hình thành mà không ai biết/ Chỉ có gió trên cây tùng là họa được âm thanh ấy)
Trong thế hệ thứ hai, Tuệ Trung (lớn hơn Thánh Tông mười tuổi, là bác của Nhân Tông; được Thánh Tông tôn sư huynh, Nhân Tông tôn sư phụ) phá chấp mạnh mẽ nhất, triệt để nhất với số lượng thơ văn tập trung vào Thiền đạo phong phú nhất (nay còn lại khoảng 50 bài gồm thơ, văn, ngữ lục…) và lối sống “cư trần lạc đạo” “giang hồ tự thích” cuồng phóng mãnh liệt nhất. Trong đó, Thượng sĩ ngữ lục gồm hai phần Đối cơ và Tụng cổ là tác phẩm kế thừa và phát triển mạnh mẽ phong cách sử dụng “công án tu tập” từ Thái Tông, xa hơn là từ Mai Trực Viên Chiếu (999 – 1090).
Thơ văn Tuệ Trung dày đặc công án, thoại đầu, biểu tượng, thuật ngữ… truyền bá yếu chỉ Thiền tông ngay từ nhan đề tác phẩm: Phật tâm ca, Tâm vương; Phàm Thánh bất dị, Mê ngộ bất dị, Trì giới kiêm nhẫn nhục, Vạn sự quy như, Thế thái hư huyễn; Đốn tỉnh, Dưỡng chân, Chiếu thân, Tự tại; Thị chúng, Thị học, Thị đồ; Xuất trần, Nhập trần, Thoát thế; Thủ nê ngưu, Trữ từ tự cảnh văn; Tụng Thánh Tông đạo học… Thơ văn Trần Tung có giá trị “tập đại thành triết lí Thiền tông Việt Nam thế kỉ X – XIV”, từ những kiến giải “tối nghĩa, mơ hồ” về bản thể luận Tính Không nhằm khơi gợi trực cảm đốn ngộ gắn liền với giải thoát luận “đập vỡ” “dứt tuyệt” nhị kiến; cho đến tinh thần tự do vô niệm phá chấp, nhuyễn thấm Nho Phật Lão Trang và tiếng cười tự trào đậm chất u mặc (umua) khi chiêm nghiệm con đường tu tập của chính mình và bạn tu [3]. Đến Tuệ Trung, cả Thiền luận và Thiền pháp trong trước tác của Thái Tông đã được phát triển một bước mới, sang một hình thức khác bay bổng thi vị hơn, đồng thời cũng “gây hấn” “phi lí” hơn, phù hợp riêng với cấp độ Thiền môn bậc cao; tính phổ cập hẹp lại, cùng lúc giá trị triết học và nghệ thuật được nâng lên.
Cuối cùng là Nhân Tông – thế hệ thứ ba – một mặt, tổng hợp tư tưởng Tính Không, nâng cao biểu tượng Đại Thừa Bát Nhã; mặt khác, tạo nên sự hòa quyện khó phân biệt Đạo với Đời trong từng câu thơ ý chữ. Tư tưởng Tính Không được Nhân Tông hoằng pháp không chỉ bằng thơ văn chữ Hán mà còn bằng thơ văn Nôm, đó là nét đặc sắc thứ nhất, đánh dấu một chặng mới trên con đường Việt hóa Phật giáo Thiền tông, thể hiện sự phổ cập ngày càng rộng rãi của Thiền tông trên đất Việt. Đặc sắc thứ hai là sự đa dạng về thể loại/thể tài, so với cha ông, Nhân Tông sử dụng phong phú nhất các hình thức thi văn Thiền đạo. Ngoài các tiểu thể tài văn học chức năng như Kệ, Minh, Tán, Ngữ lục…, sáng tác của Nhân Tông còn có nhiều thể tài nghệ thuật như Thơ, Phú, Ca, Văn xuôi… Đặc sắc thứ ba là tính độc đáo sáng lập trong hình tượng Thiền thi. Thơ văn Nhân Tông đã chính thức ghi dấu ấn Trúc Lâm Yên Tử trong lịch sử Thiền tông Việt Nam với những danh ngữ Thiền đạo bất hư truyền “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên / Cơ tắc xan hề khốn tắc miên / Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch / Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, “Bụt ở cong nhà / Chẳng phải tìm xa / Nhân khuây bản nên ta tìm bụt / Đến cốc hay chỉn bụt là ta”…
Như vậy, từ vị trí khai mở của Thái Tông, tiếp dẫn thế hệ thứ hai gồm Thánh Tông và Tuệ Trung, đến thế hệ thứ ba, Nhân Tông là đại diện xứng đáng cho sự kế truyền liền mạch tiến tới phát triển thịnh đạt của tư tưởng Thiền Tông Việt Nam thế kỉ XIII – XIV. Sự thịnh đạt của tư tưởng Phật giáo trong cảnh giới bao dung hòa đồng “đa tôn giáo” chưa bao giờ viên dung và thành tựu đến thế với sự nghiệp đắp bồi xã tắc, giữ vững biên cương.
- Ba thế hệ cảm hứng Thiền đạo
“Cảm hứng Thiền đạo” giữ vị trí chủ đạo trong văn chương đa số các tác giả sống và viết dưới hai triều đại Lý – Trần. Đó là cảm hứng khẳng định/đề cao tư tưởng Phật giáo Thiền tông, là tinh thần hoằng dương yếu lĩnh Tính Không trong triết lí nhân sinh từ bi bác ái; được thể hiện qua những hình thức nghệ thuật phong phú, uyên áo. Như trên đã nói, Thái Tông biểu đạt mạnh mẽ tư tưởng Tính Không chủ yếu thông qua văn học chức năng (tôn giáo lễ nghi). Tuy nhiên, không thể phủ nhận giá trị văn học đặc sắc của những áng văn chữ Hán theo lối biền ngẫu, câu từ đăng đối, nhịp điệu bổng trầm tạo nên nhạc tính khá hấp dẫn với hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng gợi liên tưởng sâu xa. Thậm chí Thiền tông chỉ nam tự còn mang dáng dấp một truyện ngắn có kết cấu mở – kết khá chặt chẽ, có tình huống truyện khá gay cấn, nhân vật bước đầu thể hiện cảm xúc; và những đối thoại có giá trị khắc họa phần nào từng tính cách riêng mỗi nhân vật Trần Cảnh, Trần Thủ Độ, Quốc sư… Đáng chú ý hơn là, cảm hứng Thiền đạo đã góp phần tạo nên Thiền thi – mảng thơ trữ tình “ngậm Thiền” mang phong cách “Thiền hứng” độc đáo của thi ca đời Trần mà đời sau không dễ có. Cùng với các bài “kệ – thi” từ Tiền Lê đến Lý, Trần; Thiền thi đời Trần góp phần hình thành một dòng thơ thiên nhiên riêng biệt, khác lạ.
Từ bài thơ trữ tình duy nhất còn lại của Thái Tông (Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn) cho đến các bài thơ trữ tình của Thánh Tông (Hạ cảnh, Hạnh Thiên Trường hành cung, Cung viên xuân nhật ức cựu…) và Tuệ Trung (Giang hồ tự thích, Phúc Đường cảnh vật, Phóng cuồng ngâm…) đều phảng phất Thiền ý cùng tâm hồn người thơ nhẹ lâng trong hình khí tiêu sơ của trời mây trăng gió. Niềm vui của nhà sư lặng lẽ một mình giữa am vắng núi cao, trăng sáng, gió nhẹ lay cửa (gỗ) thông; cảm xúc thư thái của người thơ bên tấm màn biếc cây lá hoa tươi sau cơn mưa mùa hạ trong làn hương sen thơm mát giữa tiếng ve khua rộn bóng chiều; niềm vui hân hoan cùng “trăm giọng chim, nghìn ngọn quýt” ở phủ Thiên Trường hòa trong bầu trời sắc nước mùa thu thanh tĩnh; cảm giác thích thảng của chiếc thuyền nhỏ nhịp nhàng mái chèo lênh đênh trên sông lớn;… tất cả những trạng thái cảm xúc khá đa dạng đó phần lớn “ngậm” Thiền ý làm nên vẻ đẹp của cái Hư Không rất khó diễn tả.
Như vậy, ba tác giả thuộc hai thế hệ văn chương Thiền tông đầu tiên nhà Trần tuy số lượng thơ trữ tình còn lại không nhiều, song cũng đủ cho đời sau cảm nhận thần thái.Cuối cùng, lịch sử nhà Trần đã chọn Nhân Tông đại diện cho thế hệ thứ ba, làm nên “tập đại thành cảm hứng Thiền đạo Trúc Lâm Yên Tử”. Sau Nhân Tông, đáng tiếc đời thứ năm – Minh Tông (một thi sĩ tài hoa) đã đốt hết thi tập, cũng giống như cha mình, Anh Tông – đời thứ tư; bởi vậy, vị trí “tập đại thành cảm hứng Thiền đạo Trúc Lâm” dừng lại ở Nhân Tông – giai đoạn đỉnh cao (trên mọi phương diện) của nhà Trần. Trước hết, “tập đại thành” cảm hứng Tính Không được tập hợp bởi những bài thơ văn Nôm và Hán trực tiếp diễn tả tư tưởng, cảm xúc của vị hoàng đế được mệnh danh Thiền sư – thi sĩ Điều Ngự Giác Hoàng. Bài phú Cư trần lạc đạo gồm mười hội bằng văn Nôm và một bài kệ chữ Hán chính là tác phẩm tiêu biểu nhất cho “bản lai diện mục” Nhân Tông trên con đường ngộ đạo. Hơn đâu hết, Cư trần lạc đạo cũng đại diện cho cảm hứng Thiền tông sống động trong bầu sinh quyển hòa đồng đa tôn giáo đã được gợi mở từ Thiền tông chỉ nam tự:
… Lo hoán cốt, ước phi thăng, đan thần mới phục
Nhắm trường sinh, về thượng giới, thuốc thỏ còn đam
Sách Dịch xem chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu báu
Kinh nhàn đọc dấu, trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim… (Hội 1)
… Dứt trừ nhân ngã thì ra tướng thực kim cương
Dừng hết tham sân mới lảu lòng màu viên giác
Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương
Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc… (Hội 2)
Bài ca Nôm Đắc thú lâm tuyền thành đạo giống như chiếc bè đưa tư tưởng Kim Cương Bát Nhã đến gần gụi hơn, giản dị, dễ hiểu hơn với đa số người mộ Phật:
… Niềm lòng vằng vặc / Giác tính quang quang / Chẳng còn bỉ thử / Tranh nhân chấp ngã / Trần duyên rũ hết / Thị phi chẳng hề /… Học đòi chư Phật / Cho được viên thành / Xướng khúc vô sinh / Am thiền tiêu sái / … Cốc hay thân huyễn / Chẳng khác phù vân / Vạn sự giai không / Tựa dường bọt bể…
Đồng cảm hứng “kí họa” chân dung Tuệ Trung với Thánh Tông, Pháp Loa, Đỗ Khắc Chung,… Nhân Tông viết nhiều hơn cả (một bài thơ, một bài truyện xen thơ); và thể hiện niềm ái mộ mạnh mẽ hơn cả trước phong cách Thiền hành tự do phá chấp của Thượng sĩ. Trong bài Tán Tuệ Trung Thượng sĩ, Nhân Tông hẳn không ngẫu nhiên “tập cổ” lời Nhan Uyên trong Luận ngữ (Tử Hãn đệ cửu) để ca tụng phong thái vô niệm triệt để, biến hóa khôn lường đó: Vọng chi di cao / Toàn chi di kiên / Hốt nhiên tại hậu / Chiêm chi tại tiền / Phù thị chi vị / Thượng sĩ chi Thiền (Nhìn lên càng thấy cao/ Khoan vào càng thấy cứng/ Bỗng nhiên ở phía sau/ Nhìn lại thấy phía trước/ Cái đó gọi là/ Đạo Thiền của Thượng sĩ). Đây là một trong những thủ pháp nghệ thuật mà Nhân Tông sử dụng để (thường) bày tỏ tư tưởng Nho Phật hòa đồng/tam giáo tịnh hành tiếp thu sâu sắc từ ông nội (khi Thái Tông viết Thiền tông chỉ nam tự đặt “đại giáo của đức Phật” và “trách nhiệm của tiên thánh” gắn liền nhau không chia tách), sâu xa hơn từ Viên Chiếu và các danh tăng đời trước (Ly hạ trùng dương cúc/ Chi đầu thục khí oanh – đó là ý nghĩa của Phật và Thánh vậy)
Thuộc thể tài “ngữ lục” (văn học chức năng tôn giáo lễ nghi, tiểu truyện thiền sư), Thượng sĩ hành trạng đánh dấu bước tiến đáng kể so với cách viết của Thiền uyển tập anh ngữ lục khi Nhân Tông tổ chức được một kết cấu đa dạng tình huống và đối thoại giúp khắc họa rõ nét hơn thần thái nhân vật. Đó là chân dung sinh động của vị cư sĩ Tuệ Trung “khí lượng uyên thâm, phong thần nhàn nhã” “hỗn tục hòa quang” (trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng). Phảng phất lối kể chuyện chân thực, giản dị của Thiền tông chỉ nam tự, Thượng sĩ hành trạng vừa đậm chất văn chương, thâm sâu Thiền ý; vừa cho phép quán sát nguồn mạch Thiền đạo dồi dào tiếp nối trong thơ văn các thế hệ nhà Trần.
Tiêu biểu cho Thiền thi của Nhân Tông phải kể tới loạt thơ trữ tình, như Thiên Trường vãn vọng, Sơn phòng mạn hứng 1, Sơn phòng mạn hứng 2, Xuân vãn, Đại Lãm Thần Quang tự, Đề Cổ Châu hương thôn tự, Động Thiên hồ thượng, Đăng Bảo Đài sơn… mang phong cách “kệ – thi” với sự xuất hiện khá rậm rạp của các thuật ngữ, biểu tượng Phật giáo, Lão giáo. Một nhóm thơ trữ tình nữa, như Xuân cảnh, Đề Phổ Minh tự thủy tạ, Vũ Lâm thu vãn, Lạng Châu vãn cảnh… cũng mang Thiền ý, song dường như nghiêng về thế tục nhiều hơn. Và một nhóm thơ trữ tình khác, bao gồm Xuân hiểu, Nhị nguyệt thập nhất nhật dạ, Nguyệt, Tảo mai, Khuê oán… thì nghiêng hẳn sang cái đời thường đa đoan lãng mạn.
Ở nhóm Thiền thi thứ nhất, cảm hứng Thiền đạo thường hiện lên qua những hình ảnh thiên nhiên thanh tĩnh, trong trẻo. Tiêu biểu là bài Sơn phòng mạn hứng 2:
Thị phi niệm trục triêu hoa lạc / Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn / Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch / Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn
(niềm thị phi rụng theo hoa buổi sớm/ lòng danh lợi lạnh theo trận mưa đêm/ hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non tịch mịch/ một tiếng chim kêu, lại cảnh xuân tàn)
Thiên nhiên vô tư thanh lọc tâm tính con người, con người thì hòa mình vào thiên nhiên, tự giải thoát khỏi tà kiến/tạp niệm (thị phi niệm, danh lợi tâm), lặn mình trong thời gian vô thường (hựu xuân tàn). Đó là cảnh giới Chân Như ngay giữa cõi trần khi Tâm ta đạt tới Định Tuệ. Bài thơ còn đáng chú ý ở nghệ thuật ngắt nhịp phá cách câu thơ thất ngôn (dùng nhịp 3/4) mà Thánh Tông là người đầu tiên đã thực hiện trong bài thơ Hạnh Thiên Trường hành cung. Thơ văn Nhân Tông luôn có những chi tiết tư tưởng hoặc nghệ thuật bộc lộ rõ ý thức kế truyền cha ông mà vẫn để lại dấu ấn sáng tạo riêng như vậy.
Có một hiện tượng khá thú vị với chùm thơ Xuân của Nhân Tông, ba bài thơ là ba ý tưởng, phong cách khác nhau. Bài thứ nhất, Xuân vãn thuộc nhóm Thiền thi:
Niên thiếu hà tằng liễu sắc không / Nhất xuân tâm tại bách hoa trung / Như kim kham phá đông hoàng diện / Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng
(thuở trẻ chưa từng hiểu rõ “sắc” với “không”/ mỗi khi xuân đến vẫn gửi lòng trong trăm hoa/ ngày nay đã khám phá được bộ mặt chúa xuân/ ngồi trên nệm cỏ giữa tấm phản nhà chùa ngắm cánh hoa rụng)
Đây là bài thơ diễn tả quá trình giác ngộ Thiền đạo, từ chỗ phân biệt nhị kiến (sắc – không), tâm vô minh vọng tưởng mê loạn (bách hoa trung – một ẩn dụ về nỗi đam mê tục giới, chạy theo lục dục, quay cuồng đắm mê trong “thanh sắc”); đến chỗ đốn ngộ, tâm an lạc, bình thản, không vọng động, an nhiên trước sự biến đổi của vũ trụ.
Bài thứ hai, Xuân cảnh thuộc nhóm Thiền ý:
Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì / Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi / Khách lai bất vấn nhân gian sự / Cộng ỷ lan can khán thúy vi
(trong khóm hoa dương liễu rậm, chim hót chậm rãi/ dưới bóng thềm ngôi nhà chạm vẽ, mây chiều lướt bay/ khách đến chơi không hỏi việc đời/ cùng đứng tựa lan can ngắm màu xanh mờ mịt ở chân trời)
Không gian thanh tĩnh, âm thanh và chuyển động chầm chậm, êm ả; con người “vô ngôn” với Tâm “vô trụ” (không nghĩ hỏi việc đời), cùng lặng lẽ hòa nhập thấu suốt.
Bài thứ ba, Xuân hiểu thuộc về nhóm thứ ba – đa đoan lãng mạn:
Thụy khởi khải song phi / Bất tri xuân dĩ quy / Nhất song bạch hồ điệp / Phách phách sấn hoa phi (ngủ dậy mở cánh cửa sổ/ không ngờ mùa xuân đã về/ một đôi bướm trắng/ phần phật cánh, bay đến với hoa)
Hai nhóm Thiền thi và Thiền ý thường mang bóng dáng cảm hứng Thiền đạo của ông nội Thái Tông và sư phụ Tuệ Trung; ngược lại, với nhóm thơ lãng mạn, Nhân Tông tiếp nối chủ yếu từ người cha. Cái tâm trạng bâng khuâng nhớ tiếc người xưa của Thánh Tông khi ngắm nhìn hoa xuân rực rỡ trên lối đi rêu mọc (Cung viên xuân nhật ức cựu) trở lại trong thơ Nhân Tông với những cung bậc tinh tế trong những trạng huống cảm xúc khác nhau ở mỗi bài thơ tả trăng, đêm, hoa mai sớm, hay nỗi oán của khuê phụ…
So sánh với Tuệ Trung “tập đại thành triết lí Thiền tông Việt Nam thế kỉ X – XIV”, có thể số lượng “tác phẩm Thiền” và cường độ “cảm hứng Thiền” của Nhân Tông không bằng [4]. Tuy nhiên, Nhân Tông có những độc đáo riêng về tính đa dạng của thể loại, ngôn ngữ, đặc biệt là đa dạng về cung bậc cảm hứng Thiền đạo, như ta đã thấy.
Như vậy, Thiền thi của các hoàng đế và tôn thất nhà Trần, cũng như Thiền thi (kệ – thi) của đa số thiền sư, chính là những bằng chứng dẫn dụ tuyệt đẹp cho nhận định sau:
“Thông thường thiền sư cũng là thi sĩ. Lối nhìn của họ… có tính cách bao dung và giàu tưởng tượng… Họ không tách mình ra khỏi thiên nhiên, mà trầm mình vào đó… Khi các thiền sư nói về dòng biến tượng thiên nhiên trong thế giới, hồn thơ của họ tựa hồ lang thang giữa đó một cách tự do, bình thản và thành kính…” [5]
Nói về con đường kế tục tiền nhân để tạo lập riêng một giai đoạn phát triển đặc sắc của văn chương Phật giáo Thiền tông đời Trần, còn phải kể đến các tác gia không ít độc đáo khác như Trần Quang Triều, Trần Quốc Toại, Trần Thì Kiến, Trần Hiệu Khả,… Chặng kết bao gồm các vị hoàng đế hậu duệ của Nhân Tông như Anh Tông, Minh Tông, Nghệ Tông… là những ông vua đều để lại tác phẩm ít nhiều mang cảm hứng Thiền đạo; đồng thời là các tằng tôn như Trần Nguyên Đán, Trần Ngạc,… hoặc đồng họ như Trần Đình Thâm, Trần Công Cẩn, Trần Thuấn Du,… cũng không ít hơi hướng Thiền – Lão trong trước tác.
Cảm hứng Thiền đạo Trần triều còn vang hưởng đến tác giả họ ngoại Lê/Hồ Nguyên Trừng giữa những tháng ngày tha hương xa xứ. Tập truyện kí Nam ông mộng lục (viết xong năm 1438 ở Trung Hoa) còn lưu giữ một số giấc “thiện mộng” có giá trị bổ sung rất quý báu cho một bộ tổng tập lịch sử – tư tưởng – nhân vật – thi ca Phật giáo Đại Việt nói riêng, Việt Nam nói chung [6]. Và cảm hứng Thiền đạo Trần triều còn tiếp tục dư âm “vang bóng” trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh – một trong những trước tác Phật giáo quan trọng ở thế kỉ XVIII.
Tạm kết
Cảm hứng Thiền đạo trong văn chương tôn thất Trần triều mà thi hứng Trần Nhân Tông là một cung bậc thâm viễn đã góp phần tạo lập nền tảng văn chương Phật giáo suốt giai đoạn đầu của nền văn học viết Việt Nam. Nền tảng đó thực sự vững chắc trên nhiều bình diện – tư tưởng tôn giáo, quan điểm chính trị, ứng xử văn hóa, giáo dục, phong cách văn học,… trong trường kì lịch sử đã góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng quốc gia, chiến thắng ngoại xâm, bảo tồn nền độc lập dân tộc Việt đương thời, thiết nghĩ, luôn là bài học quý giá cho hậu thế.
Như đã nói lời Mở, chúng tôi muốn tạo dựng ở lời Kết những hình dung đầy đủ hơn về một giai đoạn tồn tại độc đáo của cảm hứng Thiền đạo trong văn chương nhà Trần qua các chặng hình thành – phát triển – kết thúc. Bài viết xin tạm dừng ở chặng mở đầu – thịnh đạt, hi vọng sẽ có dịp trở lại với cái nhìn toàn diện trọn vẹn hơn, như một lời thành kính tri ân tiên tổ.
Tài liệu tham khảo
- Đỗ Tùng Bách (2011), Thơ Thiền Đường Tống, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
- Nguyễn Tuệ Chân (biên dịch) (2008), Thiền tông Phật giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
- Nguyễn Huệ Chi (2013), Trần Tung, một gương mặt lạ trong làng thơ Thiền Lí – Trần (In trong Văn học cổ cận đại Việt Nam từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội)
- Đoàn Trung Còn (1995), Các tông phái Đạo Phật, Nxb Thuận Hóa.
- Lê Quý Đôn (1962), Kiến văn tiểu lục, Phạm Trọng Điềm dịch chú, Nxb Sử học, Hà Nội.
- Nguyễn Duy Hinh (2006), Triết học Phật giáo Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
- Huệ Năng đại sư (1992), Lục Tổ đàn kinh, Ngô Đức Thọ dịch chú, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Khuyết danh (1993), Thiền uyển tập anh ngữ lục, Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thúy Nga dịch, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Nguyễn Lang (1992), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Nguyễn Lang (1992), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Nguyễn Công Lý (2016), Văn học Phật giáo thời Lý – Trần: diện mạo và đặc điểm, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Công Lý – Đoàn Lê Giang (chủ biên) (2016), Văn học Phật giáo Việt Nam: thành tựu và định hướng nghiên cứu mới, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Đăng Na (1996), Con đường giải mã văn học trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Nhiều tác giả (2009), Thiền tông bản hạnh, Hoàng Thị Ngọ khảo cứu, phiên âm, chú giải; Nguyễn Ngọc San hiệu đính, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Nhiều tác giả (2012), Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308), con người và sự nghiệp, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- Nhiều tác giả (1993), Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam, Kỉ yếu Hội thảo Khoa học Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.
- Daisetz Teitaro Suzuki (2011), Thiền luận, quyển Thượng, Trúc Thiên dịch, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Daisetz Teitaro Suzuki (2011), Thiền luận, quyển Trung, Trúc Thiên dịch, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Daisetz Teitaro Suzuki (2011), Thiền luận, quyển Hạ, Trúc Thiên dịch, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Lê Mạnh Thát (2001), Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, tập 1, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
- Lê Mạnh Thát (2001), Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, tập 2, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
- Lê Mạnh Thát (2003), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1 (từ khởi nguyên đến thời Lí Nam Đế 544), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
- Lê Mạnh Thát (2001), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2 (từ Lí Nam Đế 544 đến Lí Thái Tông 1054), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thích Thông Phương (2004), Kinh Kim Cang giảng lục, Viện Nghiên cứu Phật học, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
- Nguyễn Đăng Thục (1996), Thiền học Trần Thái Tông, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
- Tỷ kheo Trí Quang (dịch) (2011), Kinh Kim Cang, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Hồ Nguyên Trừng (1999), Nam ông mộng lục, Ưu Đàm – La Sơn soạn, dịch, chú giải; Nguyễn Đăng Na giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Lao Tử, Thịnh Lệ (chủ biên) (2001), Từ điển Nho – Phật – Đạo, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Viện Văn học (1977), Thơ văn Lí – Trần, tập 1, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- Viện Văn học (1978), Thơ văn Lí – Trần, tập 3, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- Viện Văn học (1989), Thơ văn Lí – Trần, tập 2, quyển Thượng, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
[2] Các văn bản thi văn của tác gia nhà Trần được sử dụng trong bài viết đều chủ yếu dựa vào Thơ văn Lý – Trần (3 tập, tltk số 29, 30, 31)
[3] Do khuôn khổ bài viết, xin xem thêm bài của chúng tôi về Tuệ Trung: Triết lý Thiền của Tuệ Trung Thượng sĩ trong nguồn mạch tư tưởng Tam giáo hòa đồng thời Lý – Trần, in trong Văn học Phật giáo Việt Nam: Thành tựu và định hướng nghiên cứu mới, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2016, tr. 382 – 401.
[4] Sự so sánh về số lượng văn bản trong trường hợp tác gia trung đại (đặc biệt ở các thế kỉ xa về trước) luôn chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi sự thất truyền (hoặc xuất nhập) văn bản là một thực trạng phổ biến.
[5] Thiền luận, quyển Trung, tr.253, 254. Trường hợp thiền sư – thi sĩ Ba Tiêu/Basho (1614 – 1694) nổi tiếng của Nhật Bản là một tiêu biểu “thầy tu hoàn toàn”/ “nhà sư khất thực” trong một “thi sĩ đúng bực”/ “thi sĩ viễn du”.
[6] Xin xem Nam ông mộng lục (tltk số 27): Có 13/31 truyện (Trúc Lâm thị tịch, Tổ linh định mệnh, Phụ đức trinh minh, Tăng đạo thần thông, Ni sư đức hạnh, Y thiện dụng tâm, Minh Không thần dị, Nhập mộng liêu bệnh, Cảm kích đồ hành, Điệp tự thi cách, Thi ý thanh tân, Thi triệu dư khánh, Nghệ vương thủy mạt) ghi chép sự tích, đức độ, tài năng của các hoàng đế Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Nghệ Tông; hoàng hậu (họ Lê) của Duệ Tông; các danh tăng Giác Hải, Minh Không, Quán Viên, ni sư họ Phạm; danh y Phạm công (Bân)…


