Ngày 23/10/2024, TS. Đỗ Quốc Bảo, giảng viên môn Phạn ngữ tại Đại học Heidelberg, Cộng hòa Liên bang Đức đã có buổi trao đổi khoa học chủ đề “DHARMASAMUCCAYA – Chư Pháp Tập Yếu Kinh: phân tích phê bình sáu chương đầu dựa trên một bản kinh lá bối từ Nepal”.
Tham dự buổi trao đổi khoa học có PGS.TS. Nguyễn Tiến Vinh, Viện trưởng Viện Trần Nhân Tông; PGS.TS. Dương Thị Thu Hà, Phó Viện trưởng cùng cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên của Viện và học giả quan tâm.
Tại buổi trao đổi, TS. Đỗ Quốc Bảo đã tập trung làm rõ bốn nội dung chính gồm: Dharmasamuccaya và tác giả của nó – So sánh với các bộ sưu tập khác từ văn học Dhp; Tình hình nguồn tài liệu và đánh giá; Nguyên tắc khảo đính; Nhận xét ngôn ngữ và các kết luận sơ bộ.
Theo TS. Đỗ Quốc Bảo, Dharmasamuccaya (Dhs), biên soạn bởi Avalokitasiṃha vào cuối thế kỷ 10 hoặc đầu thế kỷ 11, gồm 36 chương và 2549 bài kệ, được sắp xếp từ Saddharmasmṛtyupasthānasūtra. So với các tác phẩm Pháp Cú khác như Dhammapada (Dhp) và Udānavarga (Uv), Dharmasamuccaya có cấu trúc tương tự Uv nhưng nội dung kém đồng nhất hơn, do sự pha trộn các kệ từ nhiều nguồn khác nhau. Trong chương Apramāda của Dhs, mặc dù có 194 câu kệ, nhiều kệ dài và không liên quan trực tiếp đến chủ đề chính là “sự cảnh giác”, trái ngược với sự nhất quán và súc tích của 38 câu kệ trong Uv. Avalokitasiṃha tập trung vào việc giữ nguyên các câu kệ từ nguồn gốc hơn là biên tập chúng một cách cẩn thận, khiến chất lượng và tính liền mạch của tác phẩm không sánh bằng Uv hay Dhp.
TS. Đỗ Quốc Bảo trình bày trao đổi
Bản thảo Dharmasamuccaya được đánh giá là có chất lượng kém, chứa nhiều lỗi như bỏ sót âm tiết và các lỗi nghiêm trọng khác, chỉ khoảng 16% các câu thơ được truyền đạt chính xác. Bản thảo Saddharmasmṛtyupasthānasūtra cũng gặp nhiều vấn đề về chất lượng, nhưng cung cấp các câu thơ không còn trong bản thảo Dhs. Bản dịch tiếng Trung từ Avalokitasiṃha mang giá trị thấp do dịch sai ngữ pháp và thiếu chính xác. Ngược lại, bản dịch Zhèngfǎ niànchǔ jīng do Prajñāruci thực hiện có chất lượng tốt hơn. Tác phẩm Miàofǎ shèng niànchǔ jīng chứa nhiều đoạn bị rút ngắn và không hoàn chỉnh, khiến nó có giá trị thấp trong việc phục hồi văn bản Sanskrit.
Nguyên tắc khảo đính của Dhs tập trung vào việc phục hồi lời văn của Avalokitasiṃha thay vì sửa chữa theo bản thảo Saddhsu hay giả thuyết về văn bản này, do thiếu nhân chứng văn bản đầy đủ. Mục tiêu là tái hiện văn bản gần nhất với nguyên mẫu của Avalokitasiṃha, ngay cả khi có lỗi không thể xác định được là của tác giả hay người sao chép. Lỗi được phân loại theo mức độ nghiêm trọng, từ lỗi âm điệu (nghiêm trọng nhất) đến lỗi ngắt quãng (dễ chấp nhận nhất), và việc chỉnh sửa sẽ dựa trên đánh giá này.
TS. Đỗ Quốc Bảo cũng đã đưa ra nhận xét về ngôn ngữ và kết luận tạm thời. Theo đó, ngoại trừ một số dạng Buddhist Hybrid Sanskrit (BHS), văn bản Dhs chủ yếu tuân theo ngữ pháp tiếng Sanskrit chuẩn. Một số lỗi do người sao chép hoặc do Avalokitasiṃha can thiệp vẫn được giữ nguyên, gây khó khăn trong việc phục hồi chính xác văn bản gốc. Các lỗi trong văn bản chủ yếu do sự thiếu hiểu biết về BHS hoặc cố gắng chuẩn hóa theo Sanskrit cổ điển. Những lỗi nghiêm trọng nhất xảy ra khi các nỗ lực này chỉ thành công một phần, gây khó khăn cho việc tái cấu trúc văn bản nguyên thủy. Câu thơ từ bản thảo Saddhsu giúp đối chiếu và đánh giá sự truyền đạt của Dhs, mặc dù chỉ hoàn thành một nửa văn bản.
Tại phiên thảo luận ghi nhận được nhiều ý kiến tích cực của PGS.TS. Lê Văn Canh, PGS.TS. Dương Thị Thu Hà cùng nghiên cứu sinh Viện Trần Nhân Tông và các nhà khoa học tham dự.
Kết thúc chương trình, Viện Trần Nhân Tông đã chụp ảnh lưu niệm với toàn thể các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, khách mời tới tham dự sự kiện.
Dưới đây là một số hình ảnh không khí diễn ra buổi thuyết trình khoa học:






