NHỮNG TÁC PHẨM ĐIÊU KHẮC TRUYỀN THỐNG… ĐẶC SẮC Ở CÁC NGÔI CHÙA CỔ BÊN BỜ SÔNG LỤC

NNC. Nguyễn Văn Việt, Viện Trần Nhân Tông – Đại học Quốc gia Hà Nội;
NNC. Lê Hồng Vệ, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Tóm tắt: Hai dải đất nằm dọc đôi bờ sông Lục thuộc địa phận huyện Na Ngạn – Lục Na dưới thời Lý – Trần, nay thuộc địa phận hai huyện Lục Nam, Lục Ngạn là nơi còn lưu nhiều di sản văn hóa Phật giáo là các linh khí, cấu kiện kiến trúc bằng chất liệu đá, sành gốm có giá trị nghệ thuật đặc sắc và đó cũng là văn vật minh chứng cho sự xuất hiện của các cơ sở thờ tự Phật giáo ở miền quê sông Lục trong lịch sử. Bài viết tập trung giới thiệu một số di sản văn hóa Phật giáo được phát hiện ở các ngôi chùa cổ ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Từ khóa: Hương án, lá đề, bảo vật quốc gia, chùa Khám Lạng, chùa Cao, chùa Tè.

1. VỀ HỆ THỐNG CƠ SỞ THỜ TỰ PHẬT GIÁO BÊN BỜ SÔNG LỤC
Sông Lục, tức sông Lục Nam có tên chữ là Minh Đức giang (sông Minh Đức). Sông bắt nguồn từ vùng rừng núi Đình Lập (Lạng Sơn) rồi chảy qua địa phận huyện Sơn Động, Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Dũng rồi nhập vào sông Thương ở ngã ba Phượng Nhãn. Sông có tổng chiều 178km, trong đó 150km chảy qua địa phận tỉnh Bắc Giang. Sông có 33 nhánh, trong đó có 4 nhánh lớn là sông Răng, sông Thanh Luận, sông Cẩm Đàn và sông Bò. Từ khu vực Chũ trở lên thượng nguồn lòng sông hẹp, nhiều ghềnh, nông nên thuyền bè lớn khó qua lại. Từ Chũ xuôi xuống hạ nguồn lòng sông rộng, sâu thuyền bè lớn có thể qua lại nên từ lâu đã được khai thác vận chuyển hàng hóa hai chiều xuôi ngược. Vì sông Lục từng được liệt hạng đẹp, giàu cổ tích nên từ thế kỷ XI các vua nhà Lý đã thường xuyên vãng lai rồi cho dựng chùa tháp thờ Phật dấu tích còn lại là phế tích chùa Bạch Liên (sau đổi là chùa Bồng Lai) ở xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn; chùa Cao (Hưng Quang tự) ở thôn Hòa Nội, xã Khám Lạng, huyện Lục Nam. Năm Thiên Thuận nguyên niên (1127) vua Lý Thần Tông đã đến chùa Hàm Long (xã Nam Dương, Lục Ngạn). Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng: “Đinh Mùi, thiên phù Khánh Thọ năm thứ 1 (1127)… ngày Ất Dậu… Vua ngự đi Na Ngạn xem các cung nữ lên dàn thiêu để chết theo Đại hành Hoàng đế”. Như vậy, khi vua cha băng hà đã được đưa đi hỏa thiêu tại một ngôi chùa ở vùng “Na Ngạn”. Nay cạnh chùa Hàm Long vẫn còn xứ đồng Dàn Thiêu và có lẽ đó chính là địa điểm dựng dàn thiêu vua Lý Nhân Tông mà Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại.

Hiện nay, dọc đôi bờ sông Lục và chi lưu dòng sông Bò (thuộc Lục  Ngạn, Lục Nam) có gần 90 ngôi chùa để lại dấu tích xây dựng trong khoảng thời gian từ thế kỷ XI đến thế kỷ XX.

Do vùng Lục Nam, Lục Ngạn vốn là miền đất gần “phên giậu” phía Bắc tổ quốc nên cư dân miền đất này luôn phải hứng chịu tổn thất bởi binh hỏa chiến tranh. Đặc biệt, từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV đất nước bị giặc Tống, giặc Nguyên – Mông, giặc Minh xâm lược thì cả ba cuộc chiến đó Bắc Giang đều là chiến trường khốc liệt nhất nên chùa tháp thờ Phật trên dải đất này cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Đa số các ngôi chùa cổ thời Lý, Trần, Lê sơ… đã bị tàn phá trở thành phế tích và được phục hồi tôn
tạo dưới thời Lê Trung hưng, Nguyễn. Đặc biệt, từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, thực hiện chủ trương chấn hưng văn hóa dân tộc, chính quyền và nhân dân các địa phương đã quan tâm trùng tu tôn tạo và khôi phục hầu hết các ngôi chùa xưa để nhân dân, Phật tử đến chiêm bái phụng Phật.
Để bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo gắn với việc nâng cao đời sống tinh thần và sự phát triển kinh tế xã hội địa phương cơ quan chuyên môn ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng chính quyền hai huyện Lục Nam, Lục Ngạn đã xây dựng hồ sơ khoa học và pháp lý để bảo tồn và đã có 84 di tích là cơ sở thờ tự Phật giáo được Nhà nước cấp bằng xếp hạng Di tích Lịch sử văn hóa.

Hệ thống hóa các cơ sở thờ tự Phật giáo ở ven đôi bờ sông Lục (thuộc địa phận huyện Lục Nam, Lục Ngạn) theo triều đại xuất hiện cho thấy có các chùa tháp như sau:
– Thời Lý (thế kỷ XI – XII) dấu tích phát hiện ở 06 di tích/ phế tích: Chùa Cao (Khám Lạng), chùa Lệ Ngạc (Nghĩa Phương), chùa Tòng Lệnh (Trường Giang)… thuộc huyện Lục Nam; chùa Bạch Liên/ Bồng Lai (Phượng Sơn), chùa Hàm Long (Nam Điện) huyện Lục Ngạn;
– Thời Trần (thế kỷ XIII – XIV) chùa tháp được mở mang nhiều hơn, ngoài các cơ sở thờ tự thời Lý xuất hiện thêm các dấu tích ở: chùa Bưởi (Đan Hội), chùa Sơn Tháp (Cẩm Lý), chùa Mã Yên (Bắc Lũng), chùa Khám Lạng (Khám Lạng), chùa Bát Nhã (Huyền Sơn), chùa Hồ Bấc (Nghĩa Phương), chùa Đám Trì (Lục Sơn), chùa Nhạn Tháp (Tiên Nha), chùa Chản (Yên Sơn) huyện Lục Nam; Chùa Am Vãi (Nam Dương), chùa Chể (Phượng Sơn), chùa Thiên Đài (Hồng Giang) huyện Lục Ngạn;
– Thời Lê sơ (thế kỷ XV) dấu tích xuất hiện rõ và duy nhất ở chùa Khám Lạng là di tích xuất hiện từ thời Trần. Ở đây còn lưu giữ hương án đá tạo tác năm Thuận Thiên ngũ niên (1432), hai bệ tượng đá tạo tác năm Hồng Đức thứ 25 (1494);
– Thời Mạc, Lê Trung hưng, Nguyễn (thế kỷ XVI – XX) hệ thống cơ sở thờ tự Phật giáo không được triều đình quan tâm như thời Lý, Trần nên dần xuống cấp và nhiều ngôi chùa được xây dựng trên non cao cảnh đẹp bị xuống cấp trở thành phế tích. Sau khi dẹp xong giặc ngoại xâm, các làng xã đã chuyển một số chùa trên núi về gần khu dân cư và đến cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII hầu hết các làng xã cổ ven sông Lục đã xây dựng chùa làng. Sang thế kỷ XVII, tín ngưỡng thờ Thành hoàng phát triển, các làng xã lại dựng thêm ngôi đình bên cạnh chùa tạo thành thiết chế tôn giáo tín ngưỡng văn hóa làng xã theo mô hình “tiền Thánh, hậu Phật” hay “Phật Thánh song hành”. Chùa Phật ở đôi bờ sông Lục cơ bản được khởi dựng trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX dưới thời Lê Trung hưng (thế kỉ XVII, XVIII) và thời Nguyễn (cuối thế kỉ XIX, đầu XX). Đó là các ngôi chùa Húi, chùa Triệu, chùa Vườn (Đan Hội), chùa Kim Sa, chùa Lịch Sơn (Cẩm Lý), chùa Nội Đông, chùa Mai Thưởng, chùa Cổ Mân (Yên Sơn), chùa Dọ, chùa Dẫm (Bắc Lũng), chùa Tè (Cương Sơn), chùa Hổ Lao (Lục Sơn) huyện Lục Nam; chùa An Phú, chùa Biển Động, chùa Nội Bàng (Trù Hựu),… huyện Lục Ngạn.
Cùng với việc lập hồ sơ di tích, công tác nghiên cứu sưu tầm hiện vật bảo tàng để trưng bày giới thiệu đến công chúng cũng được quan tâm. Đến nay, đã có 5 di tích là cơ sở thờ tự Phật giáo ở huyện Lục Nam đã được xếp hạng cấp quốc gia, 01 cổ vật được công nhận là Bảo vật quốc gia. Qua các đợt điều tra, khảo sát thực địa, nhiều văn vật cổ có giá trị đã được phát hiện, điển hình là nhóm hiện vật phát hiện ở chùa Cao, chùa Khám Lạng, chùa Đám Trì (Lục Nam) đã được Bảo tàng tỉnh tập hợp thành sưu tập quý để bảo quản và trưng bày giới thiệu đến công chúng.

2. MỘT SỐ TÁC PHẨM ĐIÊU KHẮC ĐẶC SẮC Ở CÁC NGÔI CHÙA CỔ BÊN DÒNG SÔNG LỤC
2.1. Bức phù điêu Lưỡng long tranh châu thời Lý
Tác phẩm này được phát hiện ở chùa Cao, thôn Hòa Nội, xã Khám Lạng, huyện Lục Nam và được sưu tầm về Bảo tàng tỉnh Bắc Giang tháng 12 năm 1996. Hiện vật được phát hiện tình cờ trong đống gạch vỡ đổ nát trên nền chùa Cao khi nhân dân san lấp mặt bằng để khôi phục chùa làng đã bị tàn phá thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Ngôi chùa hiện nay là công trình mới được xây dựng năm 1995 gồm 5 gian Tiền đường, 2 gian Thượng điện, kiểu quá giang gác tường. Trong những năm gần đây, tại khu vực chùa đã đã phát hiện nhiều di vật thời Lý – Trần và Lê – Mạc: gạch, ngói, bát, đĩa, chóe (thời Lý), rồng đất nung (Trần). Đặc biệt giá trị là bức phù điêu “Lưỡng long tranh châu”, mang phong cách thời Lý (thế kỷ XI-XII) và các con giống được chạm khắc kiểu tượng tròn trên bậc thềm thời Lý là những di vật có giá trị đặc sắc, tiêu biểu.
Bức phù điêu Lưỡng long tranh châu được tạo tác bằng chất liệu đá cát nhám mịn (dân gian gọi là đá gan gà), hình dáng trái tim nhưng các chuyên gia khảo cổ học gọi là phù điêu hình lá đề. Đây là hiện vật được tạo tác bằng chất liệu đá cát nhám lần đầu tiên, duy nhất phát hiện ở các di tích thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang. Đồng dạng, đồng đại với hiện vật này đã được các nhà khoa học phát hiện ở chùa Phật Tích, chùa Dạm thuộc địa bàn tỉnh Bắc Ninh và một số ngôi chùa khác được xây dựng thời Lý ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

Hiện vật được gọi là phù điêu vì nó được tạo ra để gắn trang trí trên bề mặt một bộ phận kiến trúc nào đó của ngôi chùa hay ngôi tháp cổ thờ Phật. Bề ngang, nơi rộng nhất của lá đề có kích thước 32cm; chiều cao tính từ đoạn trũng cuống lá đến chóp lá là 23cm; độ dày trung bình của bức phù điêu (lá đề) là 6cm.
Mặt trên lá đề chạm nổi rất chi tiết hình hai con rồng tư thế cuộn bay, vờn ba viên ngọc (nhị long tranh châu) đối xứng. Đây là loại rồng giun không vảy được tạo dáng vô cùng thanh thoát, mềm mại, uyển chuyển uốn khúc thành 13 đoạn cong hình 2/3
đường tròn (cũng có thể gọi là đường cong hình móc câu). Đầu rồng chầu vào nhau ở phần cuống lá, đuôi rồng uốn lượn ven mép lá rồi chụm đuôi vào nhau phần chóp lá đề. Ba viên ngọc tạc hình ba lá đề thiêng, nhỏ và được bố trí ở ba vị trí cực kỳ “đắc địa”, hài hòa, hợp lý trên đường trục từ cuống lá đến chóp lá và được ẩn hiện dưới tóc, bờm và mây lửa. Một viên ở chính tâm lá đề là viên ngọc quý nên được đặt ở vị trí trang trọng nhất. Viên bảo ngọc này được hai long thủ (đầu rồng) phun mây, thổi lửa để nâng đỡ. Viên ngọc phía dưới thì được cả đôi rồng vươn dài chân trước vờn đỡ. Viên ngọc trên cùng nằm ở tâm điểm gần nơi hai đuôi rồng tụ hợp, giao kết ở phía chóp lá. Viên ngọc này lại được “Lưỡng long” vươn dài chân sau nâng đỡ. Nhìn đôi bàn chân rồng đỡ hai viên ngọc ta ngỡ như bàn tay đức Phật từ bi chuẩn bị ban phát báu vật tới chư tôn Phật tử ở cõi trần thế.

Mép lá được tạo tác bên trong là ba đường chỉ nổi vê tròn. Ngoài cùng là hoa văn tiếp tuyến xoắn ốc, bên trong là hai gờ chỉ nổi vê tròn khá đậm. Đầu rồng nhỏ, mắt hiền từ, bờm và tóc rồng mềm mại bay lượn tạo thành hai vầng mây lửa. Chân rồng dài mảnh dẻ, cân đối với thân hình, bàn có 3 móng, khuỷu chân có bờm mây lửa dài bay về phía sau.

Miệng rồng được tạo dáng kiểu “phun châu nhả ngọc” trông rất quý phái mà huyền bí. Vây lưng rồng chiếm 1/2 thân rồng và được tạo tác đơn giản thành các gờ, viền đứt khúc. Đây là mảng điêu khắc đặc trưng mang phong cách nghệ thuật thời Lý.
Mặt sau bức phù điêu được mài nhẵn, chính giữa đục hai lỗ thủng thông nhau, cân đối mỗi lỗ có đường kính 3cm có lẽ để luồn dây buộc cố định và quay mặt bức phù điêu ra ngoài trên cấu kiện kiến trúc. Nhìn mặt sau không có hình lá đề, bởi chiều cao của tác phẩm này là 6 cm nhưng nghệ nhân xưa chỉ tập trung trang trí ở một mặt trước lá đề cho nên thực chất là đế này chỉ cao 3cm.
Quan sát kỹ lưỡng các đường nét trang trí ta có thể nhận định nghệ nhân xưa chủ yếu dùng công cụ kỹ thuật là đục, bạt và tuyệt nhiên chưa thấy dấu vết dùng dùi hay khoan lỗ… Với việc phát hiện mảng điêu khắc nghệ thuật này cho ta thông tin có độ xác tín về sự xuất hiện di tích từ thời Lý. Thêm nữa, từ thời Lý (thế kỷ XI – XIII) chùa Cao đã có quy mô kiến trúc lớn và có sự đầu tư lớn của triều đình nhà Lý nên mới có các vật liệu kiến trúc cung đình mà vẫn còn dấu tích đến ngày nay.

2.2. Hương án đá thời Lê sơ chùa Khám Lạng
Chùa Khám Lạng (xã Khám Lạng, huyện Lục Nam) được xây dựng từ thời Trần, tu sửa nhiều lần dưới thời Lê, Nguyễn và những năm gần đây. Thời Trần, chùa Khám Lạng là một Thiền viện của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, chốn tùng lâm danh tiếng ở xứ Bắc. Trong nôi tự và khuôn viên chùa Khám Lạng còn lưu giữ nhiều hiện vật được tạo tác bằng đá xanh như: Một số chân tảng, bậc thềm đá (thế kỷ XIV), hương án đá, bệ tượng đá (thế kỷ XV)… đều là tác phẩm điêu khắc nghệ thuật được tạo tác thời Lê sơ (thế kỷ XV). Trong đó, hiện vật có giá trị tiêu biểu nhất là Hương án đá được tạo tác năm 1432, một loại hình hiện vật mang tính đặc trưng có ở các ngôi chùa thờ Phật dưới thời Trần và tiếp tục được phát triển dưới thời Lê sơ – Mạc.

Nhìn tổng thể, Hương án đá thời Lê sơ chùa Khám Lạng (sau đây gọi tắt là hương án) được tạo tác thành thể khối chữ nhật, hình đài sen. Chiều dài chân đế hương án 309cm, chiều rộng đế 137cm; chiều dài mặt hương án 288,5cm, chiều rộng mặt 118cm; chiều cao từ chân đế đến mặt hương án: 114cm. Hương án được các nghệ nhân dân gian chạm khắc cầu kỳ và cơ bản tôn trọng luật đăng đối giữa mặt trước, mặt sau và hồi trái, hồi phải theo phong cách truyền thống. Hương án được chia làm 3 tầng: Mặt hương án, thân hương án và đế hương án. Ba tầng liên kết với nhau tạo thành một đài sen hoàn chỉnh.
+ Tầng mặt hương án được liên kết bởi 7 phiến đá xanh không đều nhau ghép lại. Bề mặt được tạo tác thành mặt phẳng hình chữ nhật, đục thô lấy mặt phẳng, không đánh bóng. Xung quanh tầng mặt chạm khắc ba tầng cánh sen dày 21,5cm, gồm hai tầng sen lộ và một tầng trên cùng chỉ lộ chóp cánh sen. Ba lớp cánh sen đan chéo, so le, chồng lên nhau thành dải băng hoa văn với ba tầng sen được sử dụng kỹ thuật đục, tỉa, đánh bóng công phu, cầu kỳ. Đăng đối 2 mặt trước và mặt sau mỗi lớp dưới có 15 cánh sen, lớp trên có 16 cánh sen. Hai mặt bên (hồi) cũng dùng thủ pháp đăng đối, lớp dưới có 6 cánh, lớp giữa có 7 cánh sen, lớp trên lộ 6 đầu mút cánh sen. Các cánh sen chạm tương đối giống nhau, trong mỗi cánh có chạm văn hình móc mây nổi tầng, nổi khối. Ở phần giữa đỉnh mỗi cánh sen tạc 9 hạt minh châu nổi khối được sắp xếp thành hình chữ thập.

Lớp cánh sen lộ diện, chạm nổi trên mỗi cánh sen 13 hạt bố cục đăng đối trông như hình hoa cúc.

+ Tầng thân hương án: là phần thắt lại giữa tầng mặt và tầng đế Hương án, gồm 3 thớt đá xếp chồng lên nhau. Thớt đá thứ nhất (từ trên xuống) có 10 phiến đá ghép liền, chia thành 3 lớp. Lớp trên chạm nổi hình hoa văn sóng nước chạy dài, trải đều theo thớt đá; lớp thứ hai để trơn khối vuông; lớp thứ ba để trơn nhưng vê tròn, mài nhẵn. Thớt đá thứ hai có 6 phiến đá ghép liền nhau, và được bổ ô với các khuông hình chữ nhật. Mặt trước, mặt sau đăng đối có 3 khuông chữ nhật nằm ngang được nghệ nhân chạm khắc 6 bức phù điêu hình rồng cuộn và có điểm xuyết hình hoa cúc cách điệu. Hai mặt bên đầu hồi tạc mỗi đầu một con rồng, tất cả 8 con rồng được tạo dáng ở các tư thế khác nhau, nhưng tư tưởng chủ đạo vẫn thể hiện tinh thần khoan thai, lạc quan…
Đồ án rồng trên phù điêu cơ bản giống mô típ rồng yên ngựa thân uốn cong nhiều khúc. Hai rồng mặt bên đầu hồi có kiểu dáng hơi khác: phần đầu ngóc về phía sau nằm dưới thân, chân rõ cả 4 móng, phần bờm chạy dọc theo thân có các lỗ khoan thủ công. Rồng đang trong thế uốn mình rất hiền, biểu cảm sự viên mãn và thanh bình.

Lớp thứ 3 gồm 8 phiến đá ghép lại, nửa phần trên chạm dải hoa văn hình sóng nước trải đều, ẩn trong đó là các lớp cánh sen âm mở. Nửa phần dưới tạo các đường gờ chỉ nổi chạy thẳng. Các thớt đá được vê tròn cạnh xen lẫn các gờ nổi tạo hình cân đối. Phần vê tròn tạc nổi các cánh sen âm mở xuống, khổ lớn.
+ Tầng chân đế: Gồm hai thớt đá xếp chồng lên nhau, gồm thớt đá trải nền và phần bệ đỡ. Thớt trải nền do 16 phiến đá không đều nhau ghép liền khối chữ nhật có kích thước: dài 309cm, rộng 137cm, cao 9,5cm. Thớt chân đế do 10 phiến đá không đều nhau ghép lại, bề mặt chạm nổi hình vân mây tản, phối trí cụm vân mây điểm ở ba vị trí giữa và hai góc chân đế. Giữa các cạnh tạo đường gờ nổi chạy thẳng.
Hương án chùa Khám Lạng được các nghệ nhân dân gian xưa đã sử dụng liên hoàn các kỹ thuật thô sơ trong quá trình chế tác nhưng đã đạt trình độ tinh xảo như: Kỹ thuật ghè đẽo, cưa, mài, khoan, đục và đánh bóng mà ta gặp ở thời Lý – Trần và đã manh nha xuất hiện kỹ thuật đục kênh, bong được các nghệ nhân dân gian thời kỳ sau hay dùng.

Trên bức hồi bên phải, ở phần thân Hương án có khắc 16 chữ Hán,  nét chữ chân phương, rõ nét cho biết thời gian tạo tác và người công đức để tạo ra Hương án chùa Khám Lạng – 順天五年壬子年,龕社下品刘俱,妻杜醜/ Thuận Thiên ngũ niên Nhâm Tí niên, Khám xã, hạ phẩm Lưu Câu, thê Đỗ Xú. [Nghĩa là: Ông Lưu Câu giữ chức Hạ phẩm, người xã Khám Lạng và vợ là Đỗ Xú công đức tạo tác hương án này vào năm Nhâm Tí, niên hiệu Thuận Thiên thứ 5 (1432)].

2.3. Đôi lư hương gốm Thổ Hà chùa An Bảo
Chùa An Bảo (tên Nôm là chùa Tè) thuộc xã Cương Sơn, huyện Lục Nam. Chùa được mở mang xây dựng từ thế kỷ XVIII trên nền móng chùa cổ chưa rõ được xuất hiện từ bao giờ. Trên tháp sư tổ dựng trước cửa toà Tam bảo còn lưu tấm bia Hậu Phật bi ký ghi lại thời gian xây dựng vào những năm đầu thế kỷ XVIII. Ban đầu, khi vị sư tổ có tên tục là Phạm Thị Phái đến trụ trì chùa có tên là Minh Kính tự. Năm Canh Dần (1770), triều vua Lê Cảnh Hưng dân làng hưng công xây dựng Tiền đường, Thượng điện, tạc tượng A Di Đà sơn son thếp vàng lộng lẫy. Sau đó vài năm dân thôn lại hưng công xây dựng Tam quan, Nghi môn. Đến năm Bính Thân (1776) chùa Minh Kính đã trở thành nơi đăng đàn thuyết pháp giảng đạo cho Phật tử của cả vùng phía đông bắc quanh huyện lỵ Lục Ngạn, phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc. Sau mấy trăm năm, di tích đã qua nhiều lần trùng tu, công trình kiến trúc đã thay đổi nay chỉ còn lưu giữ một số hiện vật cổ kính như: Bộ tượng thờ (trong đó có bộ tượng Tam Tổ Trúc Lâm), chuông đồng, một số pho kinh Phật và đồ thờ cổ với đủ loại chất liệu… Trong số những cổ vật trên, chúng tôi đặc biệt thích thú hai bình hương được tạo tác từ lò gốm Thổ Hà từ khoảng nửa cuối thế kỷ XVII. Dưới đây chúng tôi trân trọng giới thiệu hai cổ vật này.
– Bình hương thứ nhất: Chiều cao tổng thể 43cm, miệng tròn có đường kính 30cm. Chất liệu gốm sành nâu. Bình hương được tạo dáng giống đỉnh hương đồng, có 4 chân. Hai tai tạo tác thành đôi rồng uốn khúc đăng đối: Hai đầu rồng ngoảnh ra ngoài, ngực rồng ưỡn cong rồi nhập vào thân, thân rồng ẩn vào thân đến phần đuôi thì lộ ra bám vào thành miệng rồi vút cao làm cho thân rồng thêm phần mềm mại, uyển chuyển. Toàn thân rồng được khía tỉa những đường nét hoa văn răng lược kỹ
lưỡng, tinh tế. Miệng rồng ngậm ngọc châu, mũi sư tử, vây bờm nối tiếp văn lưỡi mác tù, đuôi hình bút… mang phong cách đặc trưng của nghệ thuật trang trí ở thế kỷ XVII, XVIII. Từ chân đến miệng bình hương được nghệ nhân làng gốm tạo tác thành 9 tầng với 7 tầng hoa văn trang trí như:  Dải văn hình học, văn cánh sen, hoa dây, mây cuốn… Trên thân, đoạn thắt giữa tang và miệng có trổ các lỗ hình bầu dục giúp ta nhìn thấy trong lòng bình hương người thợ gốm có lồng thêm một bát hương gốm bán sứ. Chữ khắc trên bình hương và bát hương bán sứ được đặt vào từ khi làm phôi rồi mới đem vào lò nung. Trên hai tai khắc chìm đôi câu đối: “Hoàng thiên giáng phúc phú thọ vinh hoa/Biền trăn phúc lộc nam nữ thịnh đa”.

– Có cùng số đo, chất liệu, kiểu dáng, họa tiết trang trí, kiểu chữ, bát hương lồng trong lòng… so với bình thứ nhất. Điểm khác là số lượng chữ Hán bình thứ hai ít hơn nhưng vẫn do một người viết. Hai chữ trên hai tai: bên trái là chữ “bình”, bên phải chữ “hương”giúp ta xác định rõ đây là bình hương chứ không phải lư hương gốm. Thân bình khía chìm năm dòng chữ Hán: “Thổ Hà xã, Nguyễn Tiến Đức, thê Nguyễn Thị Lãnh công đức bình hương phần chỉ”- Nghĩa là: Ông Nguyễn Tiến Đức cùng vợ là bà Nguyễn Thị Lãnh người xã Thổ Hà công đức bình hương để đốt giấy (vàng mã). Trên vành miệng cũng khía chìm dòng lạc khoản cho biết thời gian tạo tác hiện vật này: “Nhâm dần niên, tứ nguyệt, nhị thập ngũ nhật tạo” (Bình hương được làm ngày 25 tháng 4 năm Nhâm Dần (?).

3. LỜI KẾT
Bức phù điêu Lưỡng long tranh châu thời Lý ở chùa Cao (Khám Lạng) đã giúp chúng ta có những thông tin khách quan về niên đại của di tích này. Dưới thời Lý công trình kiến trúc chùa Cao đã khá hoàn chỉnh với quy mô lớn, kiến trúc đẹp. Đến thời Trần nó vẫn tồn tại và hưng thịnh. Có thể chùa đã qua nhiều lần trùng tu sửa chữa, song kiến trúc cơ bản vẫn là nền móng kiến trúc từ thời Lý – Trần. Những hiện vật trên, nhất là tác phẩm Lưỡng long tranh châu là các tác phẩm điêu khắc nghệ thuật khá đặc sắc. Qua đồ án, họa tiết trang trí ta thấy nghệ nhân xưa hoàn toàn dùng kỹ thuật thủ công nhưng tác phẩm của họ đạt tới vẻ đẹp hoàn hảo. Điều đó chứng tỏ trình độ thẩm mỹ của người đương đại đã đạt tới trình độ cao.
Tuyệt phẩm Hương án đá thời Lê sơ chùa Khám Lạng dù đã trải gần 600 năm nhưng tác phẩm vẫn được bảo quản tốt và giữ được gần như nguyên vẹn. Đó là một cổ vật tiêu biểu, đặc sắc nhất trên các Di tích Lịch sử văn hóa ở tỉnh Bắc Giang. Có thể nói, Hương án đá chùa Khám Lạng là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, điển hình chứa đựng nhiều thông điệp về giá trị lịch sử văn hóa, thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam ở thời Lê sơ. Nó được xem như là bảo vật quý không chỉ của tỉnh Bắc Giang mà còn là bảo vật quý của quốc gia. Hiện trên cả nước đã phát hiện nhiều hương án đá thời Trần ở các địa phương khác, nhưng đến nay chưa phát hiện hương án đá nào thời Lê sơ. Vì vậy Hương án đá chùa Khám Lạng là hiện vật, một tác phẩm điêu khắc đá nghệ thuật mang tính đại diện cho thời Lê sơ ở nước ta. Đây là một thời đại huy hoàng, nổi tiếng là thời kỳ “vua sáng tôi hiền” trong lịch sử dân tộc. Sau khi đánh đuổi hết quân Minh, giải phóng đất nước, Vương triều Lê chính thức được kiến lập (1428) và bắt đầu công việc xây dựng, phát triển nền văn hóa độc lập dân tộc. Ngoài tư tưởng Phật giáo qua các bức chạm hoa sen, hoa cúc còn thể hiện vị trí độc tôn của Nho giáo. Qua các đồ án trang trí rồng ở tư thế thư thái, lạc quan trên thân hương án, các nghệ nhân dân gian đã thể hiện sức mạnh vương
quyền, đồng thời cũng muốn gửi gắm cho hậu thế một thông điệp về một đất nước yên ổn, thanh bình của một triều đại biết khoan thư sức dân để củng cố nền độc lập dân tộc.
Với cặp Bình hương gốm sành nâu chùa An Bảo (xã Cương Sơn, huyện Lục Nam) là hiện vật được sử dụng hàng ngày nhưng trải mấy thế kỷ hai hiện vật này còn tương đối nguyên vẹn. Từ những văn tự trên hai hiện vật đã cho ta biết chính xác đây là sản phẩm do vợ chồng nghệ nhân tên là Nguyễn Tiến Đức và Nguyễn Thị Lãnh, người làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang) chế tác vào ngày 25 tháng 4 năm Nhâm Dần.
Căn cứ kỹ thuật chế tác và đồ án trang trí hình rồng, mây, dải hoa văn hình học trên bình hương cùng lối viết chữ Hán trên thân và miệng bình hương chúng tôi xác định cặp bình hương gốm này được chế tác trong khung niên đại là năm Nhâm Dần (1662) niên Vạn Khánh đời vua Lê Dụ Tông hoặc muộn hơn là năm Nhâm Dần (1722) niên hiệu Bảo Thái đời vua Lê Dụ Tông. Hai chiếc bình hương là hai món đồ thờ cổ ở chùa An Bảo thật xứng đáng là sản phẩm gốm sành nâu mỹ nghệ tinh xảo được chế tác bởi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Thổ Hà cách đây hơn ba trăm năm đến nay vẫn tồn tại để chúng ta chiêm ngưỡng, thưởng ngoạn. Đã mấy chục năm làng gốm Thổ Hà đã tắt lửa lò, những sản phẩm của làng gốm truyền thống dần vắng bóng trong dân gian nhưng tại ngôi cổ tự bên bờ sông Lục vẫn tàng lưu hai sản phẩm/tác phẩm trứ danh của vợ chồng nghệ nhân làng gốm Thổ Hà tạo ra để dâng cúng chư Phật đã trở thành di sản văn hóa Phật giáo đặc sắc rất cần được sự trân trọng bảo tồn của các cấp chính quyền và ngành văn hóa địa phương./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. UBND tỉnh Bắc Giang, Địa chí Bắc Giang (tập Từ điển). Sở VHTT Bắc Giang và Trung tâm UNESCO TTTLLS&VH xuất bản năm 2002.
2. Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, Hiện vật tiêu biểu Bảo tàng tỉnh Bắc Giang, NXB. Thông tấn, Hà Nội, 2014.
3. Nguyễn Văn Phong, Gốm Thổ Hà Bắc Giang, NXB. Thông tấn, Hà Nội, 2016.
4. Nguyễn Văn Phong, Văn bia Bắc Giang – Khảo cứu và tuyển dịch, NXB. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021.

Bài viết này được đăng trong Chia sẻ và được gắn thẻ .
Viện Trần Nhân Tông là đơn vị thành viên của ĐHQGHN được thành lập ngày 01/9/2016 theo Quyết định số 1717/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ. Viện có chức năng, nhiệm vụ chính là nghiên cứu các di sản, giá trị văn hóa và sự nghiệp của Trần Nhân Tông, giá trị văn hóa, tư tưởng Phật giáo, thời nhà Trần và các vấn đề liên quan; tư vấn chính sách về phát triển, bảo tồn và phát huy di sản giá trị văn hóa Trần Nhân Tông và văn hóa truyền thống của dân tộc; thực hiện hoạt động đào tạo về các chuyên ngành có liên quan theo quy định. Viện là tổ chức khoa học và đào tạo đặc thù. Việc quyết định thành lập Viện thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước tới văn hóa truyền thống dân tộc và tầm nhìn của các nhà lãnh đạo đối với văn hóa tư tưởng, tôn giáo truyền thống.
.
.
.
.