HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA “TRẦN NHÂN TÔNG – NHỮNG GÓC NHÌN MỚI VÀ GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI”

Vào ngày 24 tháng 8 năm 2026, tại Hội trường Nguyễn Văn Đạo, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN), Viện Trần Nhân Tông đã tổ chức Hội thảo khoa học: “Trần Nhân Tông – Những góc nhìn mới và giá trị thời đại”.

Chủ trì Hội thảo gồm có: GS.TSKH. Vũ Minh Giang, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Trần Nhân Tông; PGS.TS. Nguyễn Kim Sơn, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Chủ tịch Hội đồng Định hướng, hỗ trợ phát triển Viện Trần Nhân Tông; HT. Thích Tâm Đức, Phó Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh; HT. Thích Quảng Tùng, Trưởng Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hải Phòng.

ĐỀ DẪN HỘI THẢO: ĐỊNH HÌNH NGÀNH “TRẦN NHÂN TÔNG HỌC”

Trình bày báo cáo đề dẫn Hội thảo, GS.TSKH. Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Viện Trần Nhân Tông, nhấn mạnh vị thế lịch sử độc đáo của Trần Nhân Tông (1258 – 1308). Ngài là một trong những vĩ nhân hiếm hoi hội tụ đồng thời bốn tầm vóc kiệt xuất: một hoàng đế anh hùng, nhà chính trị, quân sự, ngoại giao xuất chúng và một bậc thiền sư đắc đạo sáng lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mang đậm bản sắc dân tộc. GS.TSKH. Vũ Minh Giang khẳng định, mục tiêu của Hội thảo không chỉ dừng lại ở việc phục dựng lịch sử mà cần đặt di sản của Ngài trong mối quan hệ đối thoại sống động, trực tiếp với những vấn đề cấp thiết của đất nước và con người Việt Nam đương đại. Từ diễn đàn này, các nhà nghiên cứu cùng chung tay từng bước định hình, xây dựng nền móng lý luận cho một chuyên ngành học thuật mới: Trần Nhân Tông học.

Hội thảo đã tiếp nhận 60 bài tham luận, chọn lọc 45 bài để đưa vào Kỷ yếu và lựa chọn 10 báo cáo tiêu biểu để trình bày tại Hội thảo. Các nghiên cứu này được chia thành các nhóm nội dung chuyên môn trọng tâm: Tư tưởng “Cư trần lạc đạo” và triết lý nhập thế của Phật giáo Trúc Lâm; Trần Nhân Tông trong sự nghiệp giữ nước, ngoại giao và kiến tạo bản sắc dân tộc; Phật giáo Lý – Trần và thiền phái Trúc Lâm dưới góc độ văn bản học và khảo cổ tư liệu; Phương pháp tiếp cận liên ngành và hiện đại trong nghiên cứu Trần Nhân Tông; Giá trị đạo đức, tư tưởng Trần Nhân Tông trong bối cảnh đương đại.

TỔNG THUẬT CÁC CHUYÊN ĐỀ HỌC THUẬT TIÊU BIỂU

Mở đầu phiên chuyên đề, các tham luận tại Hội thảo đã hướng tầm nhìn vào việc định vị triết lý Cư trần lạc đạo của Sơ tổ Trần Nhân Tông trong dòng chảy triết học Phật giáo Đông Á. Bằng phương pháp nghiên cứu hệ thống và đối chiếu lịch sử, các nhà khoa học đã tập trung làm rõ sự tương đồng và tiếp nối hữu cơ giữa các quy chuẩn thiền tông Bắc truyền với tinh thần nhập thế dấn thân của Phật hoàng Trần Nhân Tông, nhấn mạnh vào văn hóa tự lực lao động và ý thức trách nhiệm phụng sự đại chúng. Bên cạnh đó, chiều sâu triết tính trong trước tác văn học của Ngài cũng được hệ thống hóa một cách khái quát thông qua nỗ lực thiết lập bảng phạm trù tri thức luận phân định rõ ràng giữa bản thể và thực hành đạo đức, từ đó đưa ra câu trả lời biện chứng cho các vấn đề nhân sinh ngay trong thực tại đời sống.

Hội thảo tiếp tục với các luận điểm đi sâu nhận diện bản sắc của Phật giáo Trúc Lâm. Diễn đàn ghi nhận sự đồng thuận của các học giả khi phân tích ba giá trị cốt lõi làm nên diện mạo của dòng thiền thuần Việt: tinh thần sống hòa hợp bền vững với tự nhiên, lối tu hành dấn thân “Hòa quang đồng trần” lấy thiền tông làm bệ đỡ tư tưởng củng cố quốc lực, và tính dung hợp Tam giáo tạo nên một xã hội Đại Việt khoan dung, tự do tôn giáo. Để lý giải động lực tinh thần của lối sống nhập thế ấy, các báo cáo tiếp tục bóc tách nguyên lý “Phản quan tự kỷ” qua hệ thống thi ca của Sơ tổ. Các học giả khẳng định nguyên lý tự giáo dục nhân cách này chính là linh hồn cốt tủy định hình đời sống tâm linh vững chãi bên trong, soi đường cho các biểu hiện tích cực ra bên ngoài xã hội.

Về việc hiện thực hóa tư tưởng lịch sử vào đời sống thực tế, các nhà nghiên cứu đã thu hút sự chú ý khi chứng minh tầm quan trọng của việc truyền bá “Bồ tát giới” dưới thời Trần. Việc liên tục thiết lập giới pháp này cho tầng lớp lãnh đạo được nhìn nhận như một chiến lược chính danh nhằm định hình đạo đức công vụ, biến Thiền phái Trúc Lâm thành một dòng thiền mang tính “quốc gia phái” đồng hành cùng sự phát triển bền vững của đất nước. Trên bình diện bang giao quốc tế, khái niệm “Ngoại giao Phật giáo” thời kỳ này đã được làm sáng tỏ một cách thuyết phục. Các phân tích lịch sử chỉ ra rằng Trần Nhân Tông đã chuyển hóa uy tín tôn giáo và các giá trị đạo đức mềm dẻo thành một kênh ngoại giao đặc biệt để kiến tạo lòng tin bền vững với các nước lân bang và kiên định bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.

Ở nửa sau của phiên chuyên đề, Hội thảo mở rộng không gian thảo luận sang các phương pháp tiếp cận liên ngành đầy mới mẻ. Dưới lăng kính tâm lý học tích cực, hành trình buông bỏ ngai vàng và quyền lực của Đức Phật hoàng đã được giải mã một cách khoa học như một tiến trình tiệm tiến chồng lấn nhiều năm để hướng tới sự tự siêu việt, gợi mở nhiều bài học sâu sắc cho khoa học quản trị đương đại. Khép lại phiên báo cáo, các học giả đã hướng tầm nhìn trực tiếp vào thời đại chuyển đổi số bằng đề xuất xây dựng hạ tầng dữ liệu liên thông mang tên Trần Nhân Tông Digital Lab. Mô hình ứng dụng nhân văn số này sử dụng các chuẩn dữ liệu quốc tế kết hợp AI có kiểm soát nguồn để chuẩn hóa, kết nối các nguồn văn bản cổ và không gian di sản vốn đang phân tán, mở ra một phương pháp luận nghiên cứu hiện đại và tăng cường khả năng đối thoại quốc tế.

PHÁT BIỂU BẾ MẠC: TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC CHO “TRẦN NHÂN TÔNG HỌC”

Phát biểu tổng kết Hội thảo, PGS.TS. Nguyễn Kim Sơn, Chủ tịch Hội đồng định hướng, hỗ trợ phát triển Viện Trần Nhân Tông, đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế khách quan của tình hình nghiên cứu hiện nay: các công trình còn khá lẻ tẻ, rời rạc, chưa tạo ra sự đột phá học thuật lớn, quy mô nghiên cứu còn nhỏ lẻ, thiếu cả chiều sâu lẫn bề rộng và thiếu các phương pháp triển khai mới.

Để thực sự định hình một ngành khoa học chuyên sâu mang tên Trần Nhân Tông học, PGS.TS. Nguyễn Kim Sơn đề ra những định hướng phát triển chiến lược trong thời gian tới. Nghiên cứu cần đặt sự nghiệp của Sơ tổ Trúc Lâm Điều Ngự trong tương quan với Phật giáo Đông Á và hệ giá trị nhân loại lớn để khẳng định tầm vóc lịch sử. Đồng thời, thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu để làm nổi bật và khẳng định giá trị riêng biệt, độc đáo, duy nhất của Phật giáo Trúc Lâm. Đặt nghiên cứu trong chiều rộng lẫn chiều sâu lịch sử, đặc biệt chú trọng khai thác dưới góc độ một hành giả đem lại nhiều kinh nghiệm thiền chứng và trải nghiệm thực hành – đây vốn là mảng nội dung mà giới học thuật hiện nay “vừa thừa lại vừa thiếu”. Bên cạnh đó, nghiên cứu về Trần Nhân Tông phải đặt trong mối liên hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết, không thể tách rời với vương triều Trần và gia tộc Trần. Để ngành học này phát triển mạnh mẽ trong tương lai, các nhà nghiên cứu cần ứng dụng những góc nhìn mới, phương pháp nghiên cứu liên ngành hiện đại và tư duy tương thích với thời đại chuyển đổi số.

Hội thảo khép lại, mở ra một hành trình lớn: kiến tạo “Trần Nhân Tông học”, đưa di sản của một bậc minh quân – thiền sư trở thành nguồn minh triết cho dân tộc và thời đại.

Một số hình ảnh tại Hội thảo: 

   

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Viện Trần Nhân Tông là đơn vị thành viên của ĐHQGHN được thành lập ngày 01/9/2016 theo Quyết định số 1717/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ. Viện có chức năng, nhiệm vụ chính là nghiên cứu các di sản, giá trị văn hóa và sự nghiệp của Trần Nhân Tông, giá trị văn hóa, tư tưởng Phật giáo, thời nhà Trần và các vấn đề liên quan; tư vấn chính sách về phát triển, bảo tồn và phát huy di sản giá trị văn hóa Trần Nhân Tông và văn hóa truyền thống của dân tộc; thực hiện hoạt động đào tạo về các chuyên ngành có liên quan theo quy định. Viện là tổ chức khoa học và đào tạo đặc thù. Việc quyết định thành lập Viện thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước tới văn hóa truyền thống dân tộc và tầm nhìn của các nhà lãnh đạo đối với văn hóa tư tưởng, tôn giáo truyền thống.
.
.
.
.