TOẠ ĐÀM CHIA SẺ KINH NGHIỆM DỊCH THUẬT HÁN TẠNG

Vào sáng ngày 07/01/2025, nhân dịp về thăm quê hương Việt Nam, Cư sĩ – Dịch giả Nguyễn Minh Tiến đã có buổi toạ đàm Chia sẻ kinh nghiệm dịch thuật Hán tạng theo lời mời của Dự án Kinh điển phương Đông – Viện Trần Nhân Tông – Đại học Quốc gia Hà Nội.

Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến chia sẻ kinh nghiệm dịch thuật Hán tạng

Buổi toạ đàm có sự tham dự của Ban Lãnh đạo Viện Trần Nhân Tông, Phó Chủ nhiệm Dự án Kinh điển phương Đông, Trưởng nhóm chuyên gia của Dự án, cùng chư Tôn đức Tăng Ni, các bậc thiện tri thức quan tâm tới lĩnh vực dịch thuật kinh điển Hán tạng.


Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến (bút danh Nguyên Minh) là nhà văn và dịch giả với hơn 60 đầu sách đã xuất bản. Ông để lại dấu ấn sâu sắc trong cộng đồng qua những tác phẩm văn học và dịch thuật giá trị về Phật giáo, đặc biệt là những tác phẩm tiêu biểu từ Hán tạng như: Đại Bát Niết Bàn kinh, Bi Hoa kinh, Kim cương kinh, Phật thuyết A Di Đà kinh, Quy Sơn cảnh sách, Đại Đường Tây Vực ký, An Sỹ toàn thư,… Ngoài ra, ông còn hiệu đính nhiều tác phẩm Phật học có chất lượng. Ông cũng là người sáng lập website Rộng mở tâm hồn, thu hút gần 10.000 thành viên tham gia trên toàn thế giới.

Với tinh thần trách nhiệm và bề dày kinh nghiệm trong việc nghiên cứu, truyền tải chân ý của đức Phật tới con người hiện đại, giúp xây dựng đời sống tâm linh phong phú và an lạc, Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến đã có những chia sẻ hết sức chân thành về những điều ông đúc rút trên con đường dịch thuật kinh điển Phật giáo đầy gian nan, vất vả.

Theo Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến, kinh điển Phật giáo Hán tạng là một tập hợp văn bản rất cổ xưa với nội dung phức tạp, hình thức đa dạng, đòi hỏi người dịch cần trang bị nhiều kỹ năng, kiến thức về văn hoá, ngôn ngữ của thời điểm văn bản ra đời, cũng như nắm rõ đặc tính riêng của từng loại hình Kinh – Luật – Luận để có cách tiếp cận, xử lý văn bản phù hợp.

Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến thảo luận cùng PGS.TS. Nguyễn Tuấn Cường – Phó Trưởng ban Chủ nhiệm
kiêm Hội đồng biên tập Dự án Kinh điển phương Đông; Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Cư sĩ thảo luận cùng các học giả có mặt tại buổi toạ đàm về mức độ cần thiết của việc nghiên cứu, đối chiếu nhiều hệ thống sớ giải qua các thời kỳ để suy xét tất cả các khả năng lý giải, tránh việc chuyển ngữ cứng nhắc theo quán tính và niềm tin chủ quan. Tuy nhiên, Cư sĩ cũng lưu ý về mặt bất cập của việc có quá nhiều nguồn tham khảo, đặc biệt là trong bối cảnh thời đại công nghệ phát triển như hiện nay, người dịch cần phải xây dựng cho mình kỹ năng và bộ tiêu chí chọn lọc, kiểm chứng độ tin cậy của thông tin.

Xuyên suốt buổi toạ đàm, Cư sĩ nhấn mạnh điều kiện cốt lõi để thực hiện tốt công việc dịch thuật là người dịch phải thừa nhận tính linh thiêng của kinh điển, tiếp cận bản kinh với niềm tin chân chính, sâu vững của một Phật tử, niềm tin đến từ việc hành trì, chứng nghiệm những lời dạy của đức Phật.

Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến chụp ảnh lưu niệm cùng thính giả tham toạ đàm

Khép lại buổi chia sẻ, Cư sĩ nhắn nhủ tới đại chúng, đặc biệt là các bạn trẻ: “Nếu đưa sinh hoạt đời thường hài hoà với lời Phật dạy, chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc đích thực”.

 

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Viện Trần Nhân Tông là đơn vị thành viên của ĐHQGHN được thành lập ngày 01/9/2016 theo Quyết định số 1717/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập quy định tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ. Viện có chức năng, nhiệm vụ chính là nghiên cứu các di sản, giá trị văn hóa và sự nghiệp của Trần Nhân Tông, giá trị văn hóa, tư tưởng Phật giáo, thời nhà Trần và các vấn đề liên quan; tư vấn chính sách về phát triển, bảo tồn và phát huy di sản giá trị văn hóa Trần Nhân Tông và văn hóa truyền thống của dân tộc; thực hiện hoạt động đào tạo về các chuyên ngành có liên quan theo quy định. Viện là tổ chức khoa học và đào tạo đặc thù. Việc quyết định thành lập Viện thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước tới văn hóa truyền thống dân tộc và tầm nhìn của các nhà lãnh đạo đối với văn hóa tư tưởng, tôn giáo truyền thống.
.
.
.
.