MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ NGHI LỄ PHẬT GIÁO Ở TÂY YÊN TỬ THỜI TRẦN

ThS. Nguyễn Văn Quý, Phòng Nghiên cứu Phật giáo, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Tóm tắt: Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang là địa bàn hoạt động cơ bản của Phật giáo Trúc Lâm thời Trần. Từ chốn tổ Vĩnh Nghiêm, nhiều tự viện liên quan đến dòng Phật giáo này đã hiện diện hầu khắp ở vùng Tây Yên Tử, tạo thành nét văn hóa Phật giáo đặc trưng, khác với nhiều vùng miền khác.

Tìm hiểu nghi lễ Phật giáo ở Tây Yên Tử không chỉ khám phá nét riêng của sinh hoạt tôn giáo thời Trần, mà còn góp phần làm rõ hơn truyền thống tu tập của Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài tham luận, chúng tôi trên cơ sở tiếp cận Sử học tôn giáo và Tôn giáo học nhằm đưa ra một vài suy nghĩ về nghi lễ tiêu biểu của dòng Phật giáo Trúc Lâm thời Trần sau khi giới thiệu khái quát về Tây Yên Tử và hệ thống tự viện tiêu biểu thuộc Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử.

Từ khóa: Nghi lễ, Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử, Tây Yên Tử, thời Trần.

1. KHÁI QUÁT VỀ TÂY YÊN TỬ

Yên Tử là “phúc địa của Giao Châu” còn có nhiều tên gọi như Bạch Vân Sơn, Tượng Sơn, Phù Vân Sơn hay Linh Sơn,…. Yên Tử là dãy núi lớn ở vùng đông bắc miền Bắc Việt Nam, thuộc cánh cung Đông Triều có độ dài khoảng 80 km, rộng khoảng 50km với nhiều đỉnh núi chạy từ huyện Hòn Gai, tỉnh Quảng Ninh xuôi về vùng Đông Bắc rồi dừng ở vùng huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Như vậy, bình đồ Yên Tử có các nhánh lan tỏa ra 03 tỉnh, kết hợp các con sông Lục Nam, Kinh Thầy và sông Bạch Đằng tạo thành các thung lũng có cảnh quan đẹp và màu mỡ phù hợp với nghề trồng lúa nước và đánh bắt thủy sản. Mỗi đỉnh núi lại có những tên gọi khác nhau, chẳng hạn như núi Yên Tử (cao 1068m), núi Phật Sơn (cao 1000m), núi Thanh Mai (cao 800m), núi Quan Âm (cao 780m), núi Huyền Đinh (cao 700m),… Điểm quan trọng, ở dãy Yên Tử còn lưu giữ hệ thống di tích tín ngưỡng tôn giáo, nhất là hệ thống di tích gắn với quá trình hình thành, phát triển của Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử (PGTLYT).

Về địa danh, đến thời Lý – Trần, Tây Yên Tử thuộc lộ Bắc Giang, đến thời Lê thuộc xứ Kinh Bắc và thời Nguyễn là vùng đất thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đến năm 1895, tỉnh Bắc Giang được thành lập và có địa dư gần như ngày nay. Về địa lý, địa hình, vùng Tây Yên Tử nằm trong lưu vực của ba con sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam: ”Ba con sông này được tạo bởi các khối núi lớn như núi Yên Tử, núi Bảo Đài, núi Cai Kinh và một số dãy núi sót. Thượng lưu vực các con sông đó là các thung lũng lớn, các bồn địa mà con người có thể cư trú và canh tác thuận lợi. Do vậy cư dân từ các nơi cứ men theo triền sông mà ngược lên và theo triền sông mà tiến xuống để quần tụ trên đất Bắc Giang. Dần dần, trên địa vực này đã tạo thành các khu vực cư trú với khu vực đồng núi, khu vực đồng đồi và khu vực đồng nước. Trong ba khu vực ấy, các tộc người Kinh, Nùng, Tày, Sán Dìu, Cao Lan, Sán Chí, Dao, Hoa đã lần lượt đến sinh sống bên nhau. Họ đoàn kết, lao động để xây dựng làng bản. Mỗi khi có thù trong giặc ngoài, các dân tộc lại đoàn kết gắn bó cùng nhau chống lại để bảo vệ cuộc sống của mình. Suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước, người dân tộc các tỉnh Bắc Giang đã tạo nên những thành quả thể hiện ở truyền thống lao động, truyền thống đấu tranh giữ nước, truyền thống học hành khoa bảng, truyền thống văn hóa tốt đẹp… Các truyền thống đó thể hiện tập trung trong các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở Bắc Giang”. Thêm nữa, những phát hiện khảo cổ học ở huyện Lục Ngạn hay Sơn Động,… đã minh chứng vùng đất này từ lâu đã có con người sinh sống, nhất là trên lưu vực các con sông đã hình thành các làng cổ như Kẻ Cáu, Kẻ Mang, Kẻ Ve,…

Ngày nay, Tây Yên Tử bao gồm các huyện Lục Nam, Lục Ngạn, Yên Dũng và huyện Sơn Động. Trong đó, huyện Lục Nam, huyện Yên Dũng và một phần huyện Lục Ngạn là trung tâm của Tây Yên Tử, là nơi hiện diện của ba con sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam với chiều dài khoảng 130km đã khiến cho vùng đất này khá trù phú bởi giao lưu kinh tế, văn hóa khá thuận lợi với Lạng Sơn, Hải Dương, Quảng Ninh và kinh đô Thăng Long – Hà Nội.

2. DI TÍCH PHẬT GIÁO Ở TÂY YÊN TỬ

Theo thống kê, tính đến năm 2014 tỉnh Bắc Giang đã xếp hạng 680 di tích, trong đó khu vực Tây Yên Tử có 187 di tích. Cụ thể, huyện Lục Nam có 74 di tích, huyện Sơn Động có 11 di tích, huyện Lục Ngạn có 38 di tích và huyện Yên Dũng có 64 di tích. Trong số các di tích này có nhiều tự viện thuộc PGTLYT. Hệ thống tự viện này, về cơ bản được khởi dựng từ thời Trần, nhưng cũng có một số tự viện khởi dựng thời Lý. Khu vực Yên Tử nói chung và Tây Yên Tử nói riêng là nơi được các vị cao tăng lựa chọn tu hành, vì thế các tự viện thường ở nơi cao, ẩn mình trong rừng cây. Song cũng có một số tự viện ở vùng thấp, gần sông, thuận tiện giao thông và phát triển Phật giáo. Có thể kể đến một số tự viện gắn bó mật thiết với sự phát triển của PGTLYT như sau:

Chùa Vĩnh Nghiêm nay thuộc xã Trí Yên, huyện Yên Dũng. Ngôi chùa này do Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông khởi dựng vào thời Trần, được xem là điểm khởi đầu của hành trình Tây Yên Tử. Hiện ở xã Bắc Lũng, huyện Lục có chùa Yên Mã trên núi Tượng Sơn thuộc dãy Huyền Đinh.

Dãy Huyền Đinh vào thời Trần có nhiều tự viện lớn như chùa Yên trên núi Hồ Bấc, chùa Bình Long trên núi Thao Cày, chùa Yên Mã trên núi Yên Mã, chùa Sơn Tháp trên núi Tượng Sơn,… Ngoài ra, ở dãy Huyền Đinh còn nổi tiếng là thắng tích Suối Mỡ, xã Nghĩa Phương, suối thác Vực Rêu, xã Cẩm Lý. Nơi này còn hiện diện chùa Hòn Tháp (Sơn Tháp) xã Cẩm Lý, chùa Non và chùa Cao xã Khám Lạng, huyện Lục Nam được xây dựng thời Trần và nhiều truyền tích liên quan đến Phật giáo. Chùa Bình Long, xã Huyền Sơn, huyện Lục Nam có nguồn gốc từ thời Lý, song đến nay chùa chỉ còn một số di vật đá. Chùa Đông Vành, xã Lục Sơn, huyện Lục Nam là nơi dừng chân của Điều Ngự giác hoàng Trần Nhân Tông và sau này một công chúa triều Trần đến đây tu hành. Chùa Am Vãi (Am Ni) tọa lạc tại sườn bắc đỉnh núi Am Ni (Am Vãi) xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn. Núi Am Vãi án ngữ ngã ba của hai con sông Lục Nam và sông Bò. Tương truyền, chùa Am Vãi được xây dựng từ thời Lý và thuộc hệ thống tự viện phát triển từ thời Trần ở Tây Yên Tử. Dấu tích chùa xưa chỉ còn lại hai tháp đá, bên trong tháp có bài vị chữ Hán: “Trúc Lâm viên tịch ma ha bất thương Tỳ Khưu Như Liên Thiền sư thân Bồ tát cẩn vị”. Hay khu Đồng Thông, xã Thanh Sơn, huyện Sơn Động là điểm quan trọng hành hương đến chùa Đồng, tỉnh Quảng Ninh,…

Ngoài ra, ở Tây Yên Tử còn bảo lưu hệ thống di sản văn hóa phi vật thể rất phong phú và da dạng. Theo thống kê, hiện ở vùng Tây Yên Tử còn bảo tồn được 99 lễ hội liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo của nhiều cộng đồng dân tộc cư trú trên địa bàn. Tiêu biểu là lễ hội liên quan đến hai hệ thống di tích tín ngưỡng và lễ hội Phật giáo, phản ánh quá trình hình thành, phát triển tín ngưỡng, tôn giáo vùng Tây Yên Tử trong tiến trình lịch sử.

3. NGHI LỄ PHẬT GIÁO Ở TÂY YÊN TỬ THỜI TRẦN

Có thể nói, nghi lễ là một sinh hoạt rất quan trọng đối với bất kỳ tôn giáo nào. Với Phật giáo, nghi lễ không chỉ là phương thức thể hiện niềm tin mà còn làm thay đổi những thói quen không lành mạnh của tín đồ Phật giáo, nhằm xây dựng đời sống trang nghiêm, thanh tịnh, tạo điều kiện cho sự giải thoát, giác ngộ,…

cơ bản của tín đồ Phật giáo Việt Nam với sự hiện diện của 03 thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Lúc này, thiền tông Trung Quốc đã có ảnh hưởng mạnh mẽ, nhất là Lâm Tế tông (Vô Ngôn Thông) và Vân Môn tông (Thảo Đường). Tuy nhiên, tư tưởng và phương pháp niệm Phật của Tịnh Độ tông cũng đã phổ biến ở thời Lý với việc tôn thờ Phật A Di Đà, Bồ tát Quán Thế Âm,… Nghĩa là, từ thời Lý, một số tín đồ Phật giáo vừa tu thiền vừa tu Tịnh Độ, tiêu biểu như thiền sư Tịnh Lực và sự hình thành các đạo tràng Niệm Phật.

Trên phương diện sinh hoạt, các tín đồ Phật giáo đều tuân thủ theo thanh quy theo quy định của từng tông. Chẳng hạn, dòng thiền Vô Ngôn Thông thường theo thanh quy (Bách Trượng thanh quy) do Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (720 – 784) biên soạn. Vì thế, ngoài nội dung liên quan đến thời khóa sinh hoạt hàng ngày thì các nghi lễ chốn thiền môn như Nghi lễ kinh hành, nhiễu Phật, Nghi lễ quy y, Nghi lễ sám hối lục căn, Nghi lễ sám hối tam nghiệp, Nghi lễ tọa thiền,… còn phải kể đến các nghi lễ khác như Nghi lễ tụng đón giao thừa, Nghi lễ cúng rằm thượng nguyên, hạ nguyên,… Nói cách khác, có nhiều nghi lễ Phật giáo diễn ra trong một ngày, trong một năm,… Nhìn chung, nghi lễ Phật giáo rất đa dạng, phong phú theo ngày, theo tháng hay theo từng bối cảnh khác nhau, chẳng hạn như Nghi lễ tổ chức giới đàn, giảng pháp hay Nghi lễ vía đức Phật, Bồ tát,…

Đến thời Trần, Nghi lễ sám hối lục căn có thể xem là tiêu biểu và niệm Phật cũng dần dần ứng dụng trong thiền, hình thành xu hướng Thiền – Tịnh song tu, trong Niệm Phật luận cho thấy xu hướng này. Từ thời vua Trần Thái Tông đã coi trọng ba hình thức tụng kinh, tọa thiền và niệm Phật và là cơ sở thực hành cho tín đồ PGTLYT về sau. Ở đây, trong quá trình tu tập, tín đồ PGTLYT đã có sự kết hợp tự lực (Thiền) và tha lực (niệm Phật) rõ ràng. PGTLYT do vua Trần nhân Tông khai sáng và mặc dù Ngài tu hạnh Đầu đà song Ngài vẫn thực hiện phát triển Phật giáo sâu rộng trong dân gian, dẹp bỏ “dâm từ”, dạy dân thực hành Thập thiện. Thập thiện vừa là giới tu vừa là nền tảng đạo đức xã hội và điều này cho chúng ta suy nghĩ về cách phát triển Phật giáo của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã vượt khỏi giới hạn của Phật giáo, nghĩa là lấy tư tưởng, giáo lý Phật giáo làm tư tưởng xã hội.

Sự phát triển mạnh mẽ của PGTLYT đã buộc Tam Tổ Trúc Lâm kiện toàn tổ chức, chuẩn hóa chức vụ, làm sổ Tăng tịch và có cơ sở trung ương – chùa Vĩnh Nghiêm là trung tâm. Từ đây, công tác sinh hoạt tu tập cũng như các hoạt động hướng đích xã hội được thống nhất. Nghi lễ được chuẩn hóa, tiêu biểu như nghi lễ liên quan đến giới đàn, tham thiền và niệm Phật. Sở dĩ chúng ta biết được điều này là vì các bộ kinh luận thường được chư tổ PGTLYT giảng dạy cho tín đồ như Tham thiền yếu chỉ, Kim cương trường đà la ni kinh khoa chú, Niết bàn đại kinh khoa sớ, Pháp hoa kinh khoa sớ, Bát nhã tâm kinh khoa sớ, Lăng già tứ quyển khoa sớ, Nhân vương hộ quốc nghi quỹ, Pháp sự khoa văn,… trong đó, với các kinh chủ yếu là kinh Pháp hoa, Bát nhã, Lăng già,… đã cho thấy PGTLYT chủ yếu sử dụng hệ thống kinh điển Đại thừa, và với các bộ “sớ” chủ yếu được giảng dạy trong ba tháng an cư kết hạ, bởi nội dung ngắn gọn, cô đọng, súc tích.

Điều này cho thấy tính thống nhất của PGTLYT trên khắp cả nước. Tam Tổ thực lục cho biết, chẳng hạn, mỗi lần Đệ nhị tổ Pháp Loa giảng pháp ở chùa Vĩnh Nghiêm, Báo Ân hay ở Quỳnh Lâm,… có hàng nghìn người tham dự, hay vào năm 1322 “Thượng phẩm Hoài Ninh hầu Trịnh Trọng Tử và thầy chủ sự Huyền Quang gửi thư mời Sư về chùa Báo Ân ở Siêu Loại, giảng hội thứ nhì trong kinh Hoa Nghiêm… Từ đó, trở đi, suốt chín hội, thính giả cả nghìn người, khi cũng hơn năm, sáu trăm người”.

Hơn nữa, tư tưởng “tâm tức Phật” đã được vua Trần Nhân Tông kế thừa và phát triển: “Lúc rảnh việc nước, vua mời các khách Thiền đến giảng dạy tâm tông, lại tham vấn Tuệ Trung Thượng sĩ, nhờ thế đạt được cốt tủy của Thiền, nên thờ Tuệ Trung theo lễ của bậc Thầy”. Điều này đã khiến cho chúng ta suy nghĩ về thực hành của tín đồ PGTLYT trong lịch sử nghiêng về trì giới: “Sau khi thấy tính phải giữ gìn giới cho thanh tịnh. Nghĩa là trong 12 giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến an nhàn. Mắt vì không cái sở duyên của cảnh mà chui vào. Ra vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chặn. Tuy không ngăn chặn mà không phải ngăn chặn. Tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy. Đó là giới đại thừa, là giới vô thượng, cũng gọi là giới vô đẳng. Tịnh giới này, tiểu tăng cho đến bậc đại tăng đều phải gìn giữ”. Như vậy, chúng ta đã hiểu vì sao, tín đồ PGTLYT thường sử dụng Lục thời sám hối khoa nghi do vua Trần Thái Tông biên soạn.

Lục thời sám hối khoa nghi là thực hành nghi lễ, cách thức sám hối, lợi ích của sám hối,… Chân Hiền Tâm nhận xét rất đúng khi cho rằng: Người thực hành nghi lễ sám hối sáu thời, mỗi thời lễ một căn. Mỗi thời sám hối đều có các bài Dâng hương với nội dung tùy theo mỗi thời sám hối; tiếp đến là Kệ dâng hương, Kệ dâng hoa, Kệ phát nguyện, bài văn Tâu bạch có nội dung tùy theo thời sám hối rồi mới đến phần Sám hối các căn. Nghi lễ sám hối sáu căn ứng vào sáu thời. Sau khi sám hối từng căn xong thì đến phần Chí tâm khuyến thỉnh, Chí tâm tùy hỷ, Chí tâm hồi hướng, Chí tâm phát nguyện và cuối cùng là Kệ vô thường. Nội dung Kệ phát nguyện và Kệ vô thường cũng tùy căn mà có nội dung, nên có sự khác nhau giữa các thời sám. Riêng phần sám hối căn mũi, là phần sám vào cuối ngày, thì có thêm phần Kệ khuyên chúng buổi hoàng hôn và Kệ tám khổ. Riêng Phần sám căn mắt, có thêm bài mở đầu Kệ cảnh sách chúng giờ dần. Phần sám hối các căn, chủ yếu là nêu bày những lỗi mà các căn đã phạm. Sám hối sáu căn cũng chính là để nhắc nhở chúng sinh thu thúc sáu căn trong tất cả thời. Vì ngày thì “các căn va chạm…”, nên có ba thời sám hối sáng – trưa – chiều giúp chúng sinh tỉnh giác. Đêm thì “mê ngủ che đậy…” nên có ba thời đầu đêm – giữa đêm – cuối đêm giúp chúng sinh bớt mê.

Nhìn chung, Lục thời sám hối khoa nghi được vua Trần Thái Tông qua kinh nghiệm tu chứng của mình biên soạn cho thấy là nghi lễ phù hợp với tín đồ PGTLYT. Bên cạnh đó, Đệ nhị tổ Huyền Quang và Đệ Tam Tổ Pháp Loa căn cứ trên “căn cơ” của tín đồ mà giảng và khuyên tín đồ thực hành trì tụng mật chú, nhất là thực hành niệm Phật. Nếu như ở thời Lý, yếu tố Mật giáo khá nổi trọng trong các nghi lễ của các thiền sư, nhất là thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, thì đến thời Trần, nghi lễ Tịnh Độ được sử dụng thường xuyên hơn. Theo quan niệm, “Niệm Phật là điều khởi dậy do tâm. Tâm khởi dậy điều thiện tức là ý nghĩ thiện. Ý nghĩ thiện khởi dậy thì thiện nghiệp báo lại. Tâm khởi dậy điều ác tức là ý nghĩ ác. Ý nghĩ ác nảy sinh thì ác nghiệp ứng theo. Như gương hiện ảnh, như bóng theo hình”. Thực chất, Niệm Phật cũng là nghi lễ, bắt đầu là Niệm hương lễ Phật; tiếp đến là Tịnh Pháp giới chân ngôn (tụng chân ngôn 3 lần); Tịnh tam Nghiệp chân ngôn (tụng chân ngôn 3 lần); Phổ cúng dường chân ngôn (tụng chân ngôn 3 lần); Cúng hương (bài văn cúng hương); Cầu nguyện (bài văn cầu nguyện); Tán Phật (bài văn tán Phật); Quán tưởng Phật (bài văn quán tưởng Phật); Đảnh lễ (bài văn đảnh lễ); Tán hương cúng Phật (Bài Tán hương cúng Phật); Chú Đại bi (Bài chú); Kệ khai kinh rồi mở kinh tụng. Tụng xong Xưng tán Phật A Di Đà, Kinh Bát nhã; Vãng sinh quyết định chân ngôn; Sám nguyện; Sám từ vân, Phục nguyện và cuối cùng là Tam quy y,… Nghi lễ Tịnh Độ được đẩy mạnh theo hướng phân loại của vua Trần Thái Tông. Ngài cho rằng “Bậc thượng trí có thể nhờ niệm Phật mà khiến tâm trong sáng, không động, đạt tới cảnh trí thân Phật là thân ta, tâm tức Phật. Bậc trung trí nhờ niệm Phật mà tiêu diệt được ý nghĩ, trở về chính đạo, khi qua đời sẽ được niềm vui cõi Niết bàn. Còn kẻ hạ trí nhờ niệm Phật sẽ ngày đêm tu tập chăm chỉ, khi mệnh hết sẽ theo ý nghĩa thiện mà sinh ở nước Phật, lĩnh hội được chính pháp, được Phật quả”. Ở sự phân loại này, với bậc trung trí và hạ trí cần phải chuyên cần niệm Phật mới có được sự giải thoát và điều này phù hợp với tình hình Phật giáo thời Trần, bởi không phải tín đồ Phật giáo nào cũng là bậc thượng trí, hơn nữa, việc phát triển tư tưởng, giáo lý Thập thiện sâu rộng trong xã hội thì thực hành Niệm Phật phù hợp với tín đồ Phật giáo tại gia bởi tính chất dễ thực hành của pháp tu này. Bên cạnh đó, Đệ nhị tổ Pháp Loa cũng thường dặn dò tín đồ Phật giáo xuất gia khi tham cứu thoại đầu: “Tham thoại đầu thì chớ để gián đoạn. Phải nên tham cứu liên tục không xen kẽ một ý niệm nào khác. Giữ đừng để nghiêng ngả, không trao cử cũng không hôn trầm, hoạt bát như ngọc lăn bàn thạch, sáng sủa như gương chiếu trên đài. Đạt đến chỗ đó thì đi cũng vậy mà đứng cũng vậy, ngồi cũng vậy mà nằm cũng vậy, nói cũng vậy mà lặng thinh cũng vậy, không lúc nào mà không ở trạng thái thiền. Như vậy mới giải phẫu tam cú, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tìm hiểu tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng và những điều thiết yếu khác của các vị thiền tổ”.

Hay trong các buổi giảng pháp, có thể kể đến một quy trình nghi lễ được chép lại như sau. Trong một lần giảng kinh tại chùa Sùng Nghiêm: “Lúc đầu khai đường, Thượng hoàng lên tòa giảng, niêm hương báo ân xong, bèn đến tòa giảng. Thượng thủ đánh bảng… xin mời Điều Ngự. Bèn nói: “Đức Thích Ca Văn Phật vì một việc lớn mà xuất hiện ở đời, 49 năm, nhúc nhích đôi mép môi, mà chưa từng nói một chữ. Ta nay vì các người mà lên tòa giảng này, thì nói cái gì?”. Rồi Thượng hoàng ngồi xuống giường thiền, một chốc, bèn nói:

Đỗ quyên rền rỉ, trăng ngày sáng

Đừng để tầm thường xuân luống qua

Lại đánh xuống một cái: “Chẳng có gì cả, hãy đi ra đi, đi ra đi”

Qua đoạn trích dẫn này, chúng ta có thể biết phần nào về quy trình nghi lễ và nội dung của buổi giảng pháp. Ngoài những buổi giảng như thế này, các Tổ còn có những buổi giảng về các kinh sách nhà Phật. Chẳng hạn, Bài giảng tại Viện Kỳ Lân, khi niêm hương, Trần Nhân Tông nói: “Một nén hương này, khói lành thơm phúc, khí tốt bay lên, ngưng đọng năm phần pháp thân, biến khắp mười phương lễ diệu. Sức nóng lò hương dâng lên mười phương ban phúc, chín miếu ứng thiêng, tuổi vua lâu bền, ngôi trời vững chãi. Một nén hương này, trong sạch rễ mầm, hiếm lạ giống tính, không mượn sức bón vun, chỉ nhờ thấm thấy biết. Sức nóng lò hương vâng xin mưa thuận gió hòa, nước thái dân yên, trời Phật thêm sáng, xe pháp thường quay”.

Ngoài ra, các nghi lễ Cầu an, cầu siêu, chẩn tế cũng được PGTLYT chú trọng, gọi là “Diệm khẩu thí pháp hội” nhằm mục đích bố thí Phật pháp, lương thực cho loài quỷ đói. Ý nghĩa của “Diệm khẩu thí pháp hội” là sự thể hiện tư tưởng từ bi, lợi lạc cho chúng sinh. Sử Phật giáo còn ghi, năm 1320, Đệ nhị tổ Pháp Loa tổ chức trai đàn chẩn tế ở chùa Phổ Minh,…

Nhìn chung, nghi lễ Phật giáo ở Tây Yên Tử thời Trần theo chúng tôi tiêu biểu nhất là Nghi lễ sám hối và nghi lễ Tịnh Độ. Hai nghi lễ này thể hiện phần nào tư tưởng nhập thế tích của PGTLYT nhằm phổ rộng tư tưởng, giáo lý Phật giáo đến mọi người dân thời bấy giờ và “có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Nói cách khác: “Phật giáo Trúc Lâm là một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần Quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hóa Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình.

Ngày nay, nghi lễ Phật giáo ở Tây Yên Tử vẫn chủ yếu thực hiện ở các ngôi chùa. Theo kết quả khảo sát của Dương Ngô Ninh cho thấy, về nghi lễ Phật giáo ở “các ngôi chùa có thực hiện chủ trương Thiền – giáo song hành chiếm tỉ lệ cao, cụ thể: số người trả lời Có chiếm 72,25%, Không (22,25%), Không biết/ Không trả lời 6,25%”. Như thế, việc thực hành nghi lễ khi tín đồ Phật tử đến sinh hoạt tại chùa thuộc vùng Tây Yên Tử hiện nay chủ yếu là tụng kinh niệm Phật, nghe giảng pháp, và thực hiện nghi lễ Lục thời sám hối khoa nghi: “Qua khảo sát cho thấy thực hành nghi thức tụng kinh, niệm Phật chiếm tỉ lệ cao nhất 62,75%, tu thiền chiếm 62,25%, nghe giảng pháp (Kinh, Luận, Ngữ lục) chiếm 60,75%, tiếp theo câu trả lời Khác là 2% số người cho rằng họ thực hành dâng hương”. Đáng chú ý với sự phát triển của hệ thống thiền viện Trúc Lâm do Hòa thượng Thích Thanh Từ khởi xướng và xu hướng trở lại thực hành tu tập theo truyền thống PGTLYT được chú trọng. Trong đó, tiêu biểu là việc hướng dẫn và tổ chức các khóa tu thiền, thực hiện nghi lễ Lục thời sám hối khoa nghi, giảng dạy Ngữ lục,… Hòa thượng Thích Thanh Từ chia sẻ: “Chúng tôi thành lập Thiền viện Trúc Lâm với mục đích khôi phục Thiền tông Việt Nam. Nói khôi phục Thiền tông Việt Nam tức là làm sống dậy Thiền tông đời Trần.

3. KẾT LUẬN

Tây Yên Tử là địa bàn tiêu biểu về tín ngưỡng tôn giáo ở tỉnh Bắc Giang, trong đó, PGTLYT luôn luôn gắn liền với các biến động của lịch sử xã hội, đặc biệt trong giai đoạn từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV.

Về nghi lễ Phật giáo, với hệ thống tự viện PGTLYT hiện diện ở Tây Yên Tử cho thấy tính thống nhất của nghi lễ được Tam Tổ chú trọng phát triển thông qua các giới đàn, giảng pháp,… Tuy nhiên, hiện nay, phần lớn các tự viện liên quan đến PGTLYT đều hư hỏng, nên rất khó hình dung về quy mô kiến trúc, số lượng tín đồ, tu tập và những nghi lễ,… Song, rất may mắn là chốn tổ Vĩnh Nghiêm vẫn là trung tâm đào tạo tăng tài của PGTLYT trải qua thời gian vẫn hiện diện cho đến tận ngày nay. Và do đó, chốn tổ Vĩnh Nghiêm được xem là nơi lưu giữ nghi lễ tiêu biểu của PGTLYT. Đây cũng là điểm khác biệt giữa Tây Yên Tử với các vùng miền khác.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH:

  1. Bảo tàng Bắc Giang (2006), Di sản văn hóa Bắc Giang về văn hóa phi vật thể, Bắc Giang.
  2. Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Giang (2015), Lý lịch di tích chùa Vĩnh Nghiêm.
  3. Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Giang (2015), Lý lịch di tích chùa Bổ Đà.
  4. Nguyễn Xuân Cần (Chủ biên) (2001), Di tích Bắc Giang, Bảo tàng Bắc Giang.
  5. Nguyễn Thị Phương Chi (2008), “Phật giáo và mối liên hệ với xã hội Đại Việt thời Trần – thế kỷ XVIII – XIV”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 7.
  6. GiápThịHuyền(2006),“VàinétvềchùaAmVãi”,TạpchíNghiêncứuTôngiáo,số5.
  7. Nguyễn Duy Hinh (2009), Lịch sử đạo Phật Việt Nam, NXB. Tôn giáo và NXB. Từđiển Bách khoa, Hà Nội.
  8. Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Chùa Vĩnh Nghiêm Bắc Giang và thiền phái Trúc LâmYên Tử trong quá trình phát triển Phật giáo Việt Nam.
  9. Nguyễn Lang (1974), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, NXB. Lá Bối, Sài Gòn.
  10. Dương Ngô Ninh (2020), Giá trị của Phật giáo Trúc Lâm thời Trần ở Bắc Giang, Luận án tiến sĩ Tôn giáo học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
  11. Nguyễn Văn Phong (2016), Nghiên cứu văn bia tỉnh Bắc Giang, Luận án Tiến sĩ Hán Nôm, Học viện Khoa học xã hội.
  12. Thích Thông Phương (2006), Trần Nhân Tông với Thiền phái Trúc Lâm, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.
  13. Nguyễn Văn Quý (2016), “Thực trạng mộc bản chùa vĩnh nghiêm ở Bắc Giang và giá trị của nó”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4.
  14. Thích Phước Sơn (1995), Tam Tổ thực lục, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.
  15. Lê Mạnh Thát (2000), Toàn tập Trần Nhân Tông, NXB. Thành phố Hồ Chí Minh.
  16. Viện Khảo cổ học (2016), Báo cáo điều tra, khảo sát các di tích thời Lý – Trần trên địa bàn huyện Lục Nam và Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang năm 2016, Hà Nội.
  17. Viện Văn học, Thơ văn Lý – Trần, tập 2, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  18. http://thuongchieu.net/index.Truy cập ngày 17/01.2022.
.
.
.
.